Lí do chọn đề tài Sinh học là môn khoa học thực nghiệm có ứng dụng rộng rãi ở hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội cũng như trong sản xuất. Trong nội dung chương trình giáo dục phổ thông mới Sinh học là môn học được lựa chọn trong nhóm môn khoa học tự nhiên ở giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp. Quá trình dạy học bộ môn Sinh học không chỉ đơn thuần là trang bị cho học sinh kiến thức hàn lâm mà phải thông qua kiến thức đó để hình thành và bồi dưỡng cho học sinh kĩ năng tư duy, năng lực nhận thức để các em có khả năng tự học và vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn. Một trong những biện pháp hữu hiệu để hình thành và phát triển kĩ năng tư duy cho học sinh là vận dụng các kiến thức thực tiễn vào từng bài dạy để tăng sự hứng thú học tập cho học sinh.
Theo tinh thần đổi mới căn bản toàn diện thì hoạt động dạy học không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ kiến thức mà phải phát triển được năng lực nhận thức và năng lực hành động của người học. Đặc biệt là năng lực vận dụng kiến thức để giải quyết những vấn đề thực tiễn trong đời sống, nhằm xây dựng lớp thế hệ tương lai mai sau sống chủ động hơn, hành động thiết thực hơn vào thực tiễn tự nhiên và xã hội để ngày càng phát triển bền vững hơn. Thực tế giảng dạy môn sinh học ở nhà trường phổ thông hiện nay, phần lớn giáo viên mới chỉ chú ý đến giảng dạy hết nội dung trong sách giáo khoa theo chuẩn kiến thức kĩ năng mà chưa chú ý đến lồng ghép các vấn đề thực tiễn vào từng bài học dẫn đến học sinh không được tạo điều kiện để rèn luyện kĩ năng,tư duy khoa học, không phát triển năng lực của bản thân. Hậu quả học sinh chỉ nắm được các kiến thức lí thuyết hàn lâm mà không rèn được các kĩ năng, hạn chế sự phát triển tư duy của học sinh, dần dần mất đi những hiểu biết sáng tạo vô cùng lí thú của bộ môn khoa học thực nghiệm này.
Ô nhiễm môi trường là một trong những chủ đề “nóng” ở Việt Nam và trên toàn cầu. Ô nhiễm môi trường đã và đang đe doạ đến đa dạng sinh học, làm biến đổi khí hậu và nhiều hệ luỵ khác. Thực trạng hiện nay một số bộ phận học sinh còn thiếu hiểu biết, nhận thức kém về môi trường, biểu hiện thờ ơ thiếu quan tâm đến môi trường và yếu về kỹ năng kiến thức bảo vệ môi trường. Phần Sinh học vi sinh vật, Sinh học lớp 10 là phần kiến thức có tính ứng dụng thực tiễn cao và rất sát thực với đời sống phù hợp với việc xây dựng nâng cao ý thức cho học sinh.
Vì vậy, sử dụng các kiến thức thực tiễn trong dạy học để giúp cho học sinh nâng cao ý thức bảo vệ môi trường có ý nghĩa rất thiết thực. Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường thông qua dạy học chủ đề Vi Sinh Vật - Sinh học 10”. Nhằm góp phần đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao hiệu quả dạy học sinh học và rèn luyện được một số kĩ năng giải quyết một số vấn đề thực tiễn cho học sinh. Mục đích nghiên cứu 1 Tổ chức hoạt động trải nghiệm thu gom phân loại rác sử dụng chế phẩm vi sinh xử lý rác thải ở gia đình và nhà trường để nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh trong dạy học phần vi sinh vật, Sinh học 10 nhằm phát triển năng lực cho học sinh.
Giả thuyết khoa học Nếu tổ chức hoạt động trải nghiệm với chủ đề “ thu gom phân loại và xử lý rác thải” trong các bài học trong phần Sinh học VSV, Sinh học 10 và tổ chức dạy học hợp lí sẽ góp phần giúp HS hình thành kĩ năng và nâng cao ý thức bảo vệ môi trường. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài. - Phân tích cấu trúc nội dung phần Sinh học VSV, Sinh học 10. - Tìm hiểu kĩ năng giải quyết những vấn đề thực tiễn xử lý rác thải trong trường học trong dạy học phần Sinh học VSV, Sinh học 10.
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của những biện pháp đã đề xuất. Đối tượng nghiên cứu Kiến thức về VSV, hoạt động thu gom phân loại và sử lý rác thải sinh hoạt ở gia đình và nhà trường lồng ghép trong dạy học phần Sinh học VSV, Sinh học 10. Phương pháp nghiên cứu - Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận các vấn đề liên quan đến nội dung của đề tài. - Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
- Đánh giá thực nghiệm kết quả thực hiện các giải pháp nghiên cứu của đề tài. 2 PHẦN 2 - NỘI DUNG I. Cơ sở khoa học và thực trạng của đề tài 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1.
Khái niệm ý thức và nguồn gốc ý thức Để đưa ra được định nghĩa về ý thức con người đã trải qua một thời kỳ lịch sử lâu dài, nó trải qua những tư tưởng từ thô sơ, sai lệch cho tới những định nghĩa có tính khoa học. Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan vào đầu óc con người, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Ý thức là toàn bộ sản phẩm những hoạt động tinh thần của con người, bao gồm những tri thức, kinh nghiệm, những trạng thái tình cảm, ước muốn, hy vọng, ý chí niềm tin,. của con người trong cuộc sống.
Ý thức là sản phẩm của quá trình phát triển của tự nhiên và lịch sử - xã hội, là kết quả của quá trình phản ánh thế giới khách quan vào trong đầu óc của con người. Ý thức theo định nghĩa của triết học Mác - Lênin là một phạm trù được quyết định với phạm trù vật chất, theo đó ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất khách quan vào bộ óc con người và có sự cải biến và sáng tạo. Ý thức có mối quan hệ biện chức với vật chất. Theo tâm lý học ý thức được định nghĩa là hình thức phản ánh tâm lý cao nhất chỉ có ở con người.
Ý thức là sự phản ánh bằng ngôn ngữ những gì con người đã tiếp thu trong quá trình quan hệ qua lại với thế giới khách quan. Tóm lại, ý thức là một hiện tượng tâm lý xã hội có kết cấu phức tạp bao gồm tự ý thức, tri thức, tình cảm, ý chí trong đó tri thức là quan trọng nhất, là phương thức tồn tại của ý thức. Nguồn gốc tự nhiên của ý thức được thể hiện qua sự hình thành của bộ óc con người và hoạt động của bộ óc đó cùng với mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan; trong đó, thế giới khách quan tác động đến bộ óc con người tạo ra quá trình phản ánh sáng tạo, năng động. Nguồn gốc xã hội của ý thức là sự phản ánh thế giới bởi bộ óc con người là sự khác biệt về chất so với động vật.
Do sự phản ánh đó mang tính xã hội, sự ra đời của ý thức gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của bộ óc người dưới ảnh hưởng của lao động, của giao tiếp và các quan hệ xã hội. Như vậy, sự ra đời của ý thức chủ yếu do hoạt động cải tạo thế giới khách quan thông qua quá trình lao động.2 Vai trò của ý thức Nói tới vai trò của ý thức thực chất là nói tới vai trò của con người, vì ý thức tự nó không trực tiếp thay đổi được gì trong hiện thực cả. Do đó, muốn thực hiện tư tưởng phải sử dụng lực lượng thực tiễn. Nghĩa là con người muốn thực hiện quy luật 3 khách quan thì phải nhận thức, vận dụng đúng đắn những quy luật đó, phải có ý chí và phương pháp để tổ chức hành động.
Vai trò của ý thức là ở chỗ chỉ đạo các hoạt động của con người, có thể quyết định làm cho con người hành động đúng hay sai, thành công hay thất bại trên cơ sở những điều kiện khách quan nhất định. Do vậy, con người càng phản ánh đầy đủ, chính xác thế giới khách quan thì càng cải tạo thế giới có hiệu quả. Vì thế, phải phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố con người để tác động, cải tạo thế giới khách quan. Môi trường và vai trò của việc bảo vệ môi trường Môi trường là tổng hợp các điều kiện tự nhiên bao quanh sinh vật có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự tồn tại và phát triển của sinh vật và cả xã hội loài người.
Như các nhân tố : đất , đá , không khí , tài nguyên thiên nhiên ,… Môi trường là không gian sống và tồn tại của xã hội loài người, tuy vậy cùng với sự tăng trưởng kinh tế và gia tăng dân số nên ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên trầm trọng. Mặt khác thời tiết, khí hậu toàn cầu diễn biến ngày càng phức tạp trở thành thử thách lớn cho công tác bảo vệ môi trường của chúng ta. Vì vậy, cần hiểu vấn đề, cần có những hành vi ứng xử đúng đắn với môi trường và tài nguyên thiên nhiên là vấn đề cấp bách đang đặt ra, nếu không giải quyết vấn đề trên thì ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của con người trong hiện tại và cả tương lai. Bảo vệ môi trường là một việc làm thiết thực góp phần bảo vệ đất nước mình, bảo vệ trái đất và xem đây là nhiệm vụ quan trong của ngành giáo dục.
Ngày 15/11/2004 Bộ chính trị đã ra nghị quyết 41/NQ/ TƯ về bảo vệ môi trường trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nghị quyết đã xác định: “Bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại; là yếu tố bảo đảm sức khỏe và chất lượng cuộc sống của nhân dân, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, an ninh quốc gia và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta”. Một trong những giải pháp đầu tiên của ngành giáo dục đó là: Thường xuyên giáo dục, tuyên truyền, xây dựng thói quen, bảo vệ môi trường. Việc giáo dục môi trường ở nhà trường phổ thông là một quá trình nhận thức giúp các em hiểu biết về thiên nhiên và môi trường, từ đó giáo dục cho các em ý thức quan tâm thường xuyên.