đặt vấn đề, tự giải quyết vấn đề. Đó là những hoạt động có tác dụng rèn luyện, phát triển tư duy logic đồng thời cũng là một dấu hiệu biểu đạt mức độ của sự phát triển trí tuệ. Năng lực tự học 4 Trên thế giới, phát triển năng lực tự học được quan tâm và phát triển từ sớm. Ở Việt Nam, vấn đề này được xuất hiện trong nhiều công trình nghiên cứu từ những năm 1995 đến nay.
Trong cuốn “Học và dạy cách học”, GS Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: “Năng lực tự học được hiểu là một thuộc tính kĩ năng rất phức hợp. Nó bao gồm kĩ năng và kĩ xảo cần gắn bó với động cơ và thói quen tương ứng, làm cho người học có thể đáp ứng được những yêu cầu mà công việc đặt ra”. Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể năm 2018 đưa ra yêu cầu đối với năng lực tự học của học sinh là: xác định được nhiệm vụ học tập, biết đặt ra mục tiêu học tập cụ thể; đánh giá và điều chỉnh kế hoạch học tập, lựa chọn nguồn tài liệu phù hợp; tự nhận ra và điều chỉnh được những sai sót, hạn chế của bản thân để có thể vận dụng vào các tình huống khác, biết tự điều chỉnh cách học. Năng lực đọc hiểu Đọc hiểu là hoạt động đọc và giải mã các tầng ý nghĩa của văn bản thông qua khả năng tiếp nhận của người đọc.
Đọc hiểu văn bản văn học là khám phá nghĩa hiển ngôn, nghĩa hàm ẩn, các biện pháp nghệ thuật …qua đó thông hiểu các thông điệp tư tưởng, tình cảm của tác giả và giá trị tự thân cuả hình tượng nghệ thuật. Đọc hiểu là quá trình thâm nhập văn bản với thái độ tích cực, chủ động. Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể năm 2018 đưa ra yêu cầu về đọc hiểu văn bản văn học gồm: đọc hiểu nội dung văn bản, đọc hiểu hình thức, liên hệ so sánh giữa các văn bản và đọc mở rộng (đọc tối thiểu 35 văn bản văn học có thể loại và độ dài tương đương các văn bản đã học. Sự cần thiết của việc rèn luyện năng lực tự học trong dạy đọc hiểu môn Ngữ văn cho học sinh ở các trường THPT.
Sự bùng nổ của tri thức, sự phát triển của thời đại đặt ra một yêu cầu hết sức cấp bách cho nền giáo dục nước nhà là phải hiện đại hoá nội dung và phương pháp dạy học, trong đó chú trọng phát triển năng lực tự học của học sinh. Bộ môn Ngữ văn cũng không nằm ngoài quy luật đó. Thực tế dạy học đọc văn bản trong môn Ngữ văn là nội dung rất quan trọng để giúp HS phát triển các kĩ năng tự chiếm lĩnh, khám phá tri thức của tác phẩm. Điều này đòi hỏi người GV cần phải thay đổi phương pháp dạy học tốt nhất để giúp kích thích khả năng ham học hỏi,niềm say mê, hứng thú trong tìm tòi, nghiên cứu tri thức của HS.
Hình thành ở HS những kĩ năng tự học nhằm rút ngắn thời gian học tập trên lớp mà vẫn đạt hiệu quả, góp phần định hướng và phát triển cho mục tiêu học tập suốt đời của mỗi người và đáp ứng yêu cầu của giáo dục và thời đại. Kiến thức mỗi tác phẩm văn học vừa mang tính khái quát, vừa mang tính cụ thể. Để học sinh cảm nhận tác phẩm bằng chính năng lực của mình, việc nâng cao năng lực tự học cho học sinh là một sự lựa chọn tối ưu nhất trong hành trình nâng cao hiệu quả dạy học mà người giáo viên đang kiếm tìm. Cơ sở thực tiễn 1.
Bài “Vẻ đẹp của thơ ca” và văn bản “Thu hứng” trong chương trình Ngữ văn 10 ( Bộ Kết nối tri thức với cuộc sống) SGK Ngữ văn 10 (Bộ kết bối tri thức với cuộc sống) gồm hai tập. Tập 1 có 5 bài học, tập hai có 4 bài học. Bài “Vẻ đẹp của thơ ca” là Bài 2 của SKG Ngữ văn tập 1. Ở bài học này, tri thức nền văn học là những đặc trưng về hình thức của thơ (hình ảnh thơ, vần, nhịp điệu, nhạc điệu, đối, thi luật, thể thơ, nhân vật trữ tình).
Các khái niệm về hình thức thơ ca được giới thiệu trong bài này là nền tảng để HS chiếm lĩnh các tác phẩm thơ tiếp theo được đưa vào SGK Ngữ văn cấp THPT. Các bài thơ được giới thiệu trong Bài 2- Vẻ đẹp của thơ ca – đi từ hình thái thơ ca cổ điển đến thơ ca hiện đại, qua đó HS có thể nhận ra đâu là những đặc điểm bền vững và biến đổi của thơ ca trong lịch sử phát triển văn học Những điều làm nên vẻ đẹp của thơ ca chính là ngôn ngữ, hình ảnh và giọng điệu trong những câu thơ, khổ thơ. Mỗi bài thơ sẽ truyền tải một thông điệp, tâm trạng khác nhau của nhân vật và tác giả là người tạo ra nó bằng những câu thơ giàu hình ảnh, cảm xúc kết hợp với việc sử dụng các biện pháp tu từ. Văn bản “Thu hứng” là văn bản 4 được giới thiệu ở Bài 2 “Vẻ đẹp của thơ ca”.
Đây là bài thơ thuộc thể thơ Đường luật (thơ cận thể). “Thu hứng” được đánh giá là tác phẩm mẫu mực của thơ Đường luật Trung Quốc. Ở văn bản này, GV sẽ hướng dẫn HS tập trung tìm hiểu các vấn đề về thi luật, đối, đặc biệt là vấn đề nhân vật trữ tình. Thơ Đường nói chung và “Thu hứng” nói riêng chủ trương gợi hơn tả.
Chính vì vậy ngôn ngữ thơ thể hiện cao độ tính hàm súc. Dung lượng trong thơ khá khiêm tốn nên mỗi nhà thơ đều phải lao động chữ nghĩa vô cùng "vất vả" mới có thể tạo nên một bài thơ hay. Mỗi ngôn từ trong thơ đều là kết quả của quá trình chắt lọc công phu của người nghệ sĩ để phản ánh lại thế giới hiện thực đa chiều và thế giới tâm hồn phức tạp của con người. Sức sống và sự lôi cuốn của thơ nằm ở chỗ hạn chế về mặt số từ mà vẫn gợi được nhiều cảm xúc, suy tưởng.
Ngoài ra, vẻ đẹp của bài thơ còn nằm ở nhịp điệu, cách sáng tạo hình ảnh thơ, những biện pháp tu từ, giọng điệu thơ,… 1. Những thuận lợi của việc rèn luyện năng lực tự học cho học sinh THPT qua dạy đọc văn bản “Thu hứng” của Đỗ Phủ (Ngữ văn 10, bộ Kết nối tri thức với cuộc sống). - Nghị quyết 29/NQ-TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đã chỉ rõ “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học, tập trung dạy cách học, cách nghĩ và tự học, theo phương châm “giảng ít, học nhiều”. Đối với bộ môn Ngữ Văn điều này thể hiện rõ trong chương trình sách giáo khoa Ngữ Văn 10 (Bộ Kết nối tri thức với cuộc sống).
Trong bộ sách các bài học được thiết kế theo chủ 6 đề và hướng vào khai thác nhóm văn bản cùng thể loại như truyện, thơ trữ tình, sử thi, văn bản nghị luận…Trước khi khám phá mỗi thể loại, người học sẽ được cung cấp những đơn vị kiến thức mang tính chất công cụ để đọc hiệu quả các văn bản bài học ở phần tri thức Ngữ Văn. Tiếp theo, học sinh được hướng dẫn dựa trên các kiến thức công cụ để khám phá giá trị của những tác phẩm cụ thể. Cuối mỗi chủ đề là hoạt động thực hành viết về một văn bản ngoài chương trình do giáo viên hoặc học sinh lựa chọn. Sau đó các em được nói và nghe về sản phẩm học tập được hình thành ở hoạt động viết.
Trình tự này giúp các em biết cách đọc hiểu một văn bản trong sách giáo khoa từ đó tự đọc hiểu được các văn bản khác ngoài chương trình vừa có thể nêu ra ý kiến quan điểm các nhân trước tập thể. Đây là điều kiện thuận lợi để phát huy năng lực tự học cho học sinh THPT khi dạy học đọc hiểu văn bản “Thu hứng”. - Sự đổi mới trong kiểm tra đánh giá theo hướng chuyển từ chủ yếu đánh giá kiến thức, kĩ năng sang đánh giá năng lực người học với nhiều hình thức như tự luận, trắc nghiệm và không sử dụng văn bản có trong sách giáo khoa để khắc phục lối học thuộc lòng…buộc học sinh phải nâng cao ý thức rèn luyện kĩ năng đọc hiểu văn bản từ đó nâng cao năng lực tự học. Sự thay đổi này đã tạo thuận lợi cho quá trình tổ chức phát triển năng lực tự học cho học sinh THPT qua dạy học đọc hiểu tác phẩm “Thu hứng”.
- Tác phẩm “Thu hứng” đã xuất hiện trong chương trình sách giáo khoa Ngữ Văn 10 bộ Cơ bản năm 2006). Học sinh ở bậc THCS đã được làm quen với thơ Đường luật nên ít nhiều cũng đã có những kiến thức nền tảng. Những khó khăn của việc rèn luyện năng lực tự học cho học sinh THPT qua dạy đọc văn bản “Thu hứng” của Đỗ Phủ (Ngữ văn 10, bộ Kết nối tri thức với cuộc sống). Về phía giáo viên: Trong những năm gần đây dạy học Ngữ văn ở trường THPT đã có nhiều chuyển biến tích cực và đã đạt được nhiều thành tích đáng tự hào.
Tuy nhiên, trong dạy học Ngữ văn nói chung và đọc hiểu tác phẩm văn học nói riêng đa số giáo viên vẫn áp dụng cách dạy học sinh nghe - chép - nói bằng lời thầy cô khiến các em gần như học tập kiến thức theo mẫu. Do đó việc dạy học cơ bản vẫn nặng về truyền thụ kiến thức, chưa chú trọng rèn luyện kĩ năng và phát triển năng lực tự học cho học sinh còn mang tính chất hình thức Để làm rõ vấn đề này chúng tôi đã khảo sát 30 giáo viên Ngữ Văn của 3 trường THPT trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu (nội dung phiếu khảo sát được trình bày trong phụ lục 2) (link khảo sát ở PL2), thông qua trao đổi trực tiếp, trao đổi giáo án, dự giờ trên lớp và điều tra qua phiếu trắc nghiệm khách quan. Qua khảo sát chúng tôi thu được các số liệu như sau: 7 - Về vấn đề “Thầy/cô gặp khó khăn gì khi dạy học văn bản “Thu hứng”? có 12/30 GV(40%) cho rằng chưa tìm được một phương pháp thực sự kích thích HS chủ động sáng tạo. Có 11/30 GV (36,7%) trả lời không tạo được hứng thú cho HS, có 7/30 GV(23,3%) cho rằng thời gian dạy học còn hạn hẹp và kiến thức còn hàn lâm.