CHƯƠNG 1. Bạo lực học đường Bạo lực học đường được hiểu là hành vi hành hạ, ngược đãi, đánh đập, xâm hại thân thể, sức khỏe, lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, cô lập, xua đuổi và các hành vi cố ý khác gây tổn hại về thể chất, tinh thần của người học xảy ra trong cơ sở giáo dục hoặc lớp học độc lập. Bạo lực học đường không phải là hiện tượng mới, song thời gian gần đây nó xảy ra liên tục và bộc lộ tính chất nguy hiểm, nghiêm trọng hơn, trở thành nỗi trăn trở của nhiều gia đình và là nỗi bức xúc của toàn xã hội. Theo số liệu mới nhất của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong hội nghị “Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống và khơi dậy khát vọng cống hiến cho thanh niên, thiếu niên và nhi đồng giai đoạn 2021-2030” cho thấy trong năm học 2022 - 2023, cả nước xảy ra gần 1.600 vụ việc HS đánh nhau ở trong và ngoài trường học.
Trung bình, cứ 5.200 HS lại có một vụ đánh nhau; cứ hơn 11.000 HS có một em bị buộc thôi học vì đánh nhau; cứ 9 trường có một trường có HS đánh nhau. Trong khi đó, theo thống kê của Bộ Công an, mỗi tháng có hơn 1.000 thanh thiếu niên phạm tội. Trước đây, tội phạm giết người trong độ tuổi từ 30 đến dưới 45 chiếm số lượng cao nhất. Hiện giờ, tội phạm có dấu hiệu trẻ hóa và mức độ ngày càng nghiêm trọng, tội phạm giết người có độ tuổi 18 đến dưới 30 chiếm 41%.
Trong đó, hơn 75% các trường hợp bạo lực có đối tượng là HS và sinh viên. Phần lớn các vụ HS xô xát, đánh nhau xảy ra gần đây xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ nhặt trên lớp, trong cuộc sống, nói xấu nhau trên mạng xã hội hay xuất phát từ sự kích động của bạn bè… Hậu quả của các vụ việc đánh nhau gây thương tích cho cơ thể, còn hành vi quay video và đưa lên mạng xã hội để làm nhục người khác gây hậu quả nghiêm trọng về tinh thần của nạn nhân. Bạo lực học đường không chỉ xuất hiện ở nam sinh mà còn lan rộng đến cả nữ sinh, đặc biệt là ở cấp THPT. Nó không chỉ giới hạn trong tình huống bạo lực giữa HS với HS mà còn liên quan đến các tình huống bạo lực giữa HS với GV cũng như giữa GV và HS.
Bạo lực học đường ở nước ta không chỉ giới hạn ở hành động thể chất mà còn bao gồm nhiều biểu hiện tinh thần (bạo lực bằng ngôn từ), chẳng hạn như đe dọa và lăng mạ bằng lời nói, gây ra ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển toàn diện của các HS. Bạo lực ngôn từ 2. Khái niệm: Bạo lực ngôn từ còn được gọi là hành vi “bạo hành lạnh” là một khái niệm còn mới ở Việt Nam cũng như trên thế giới. Trong tiếng Anh, bản dịch gần nghĩa nhất với khái niệm bạo lực ngôn từ là verbal violence, cụ thể 8 hơn chính là hành vi dùng ngôn từ để tấn công, công kích, xúc phạm một hay nhiều người (verbal abuse).
Bạo lực ngôn từ là hành vi sử dụng ngôn ngữ vượt quá giới hạn, thể hiện khi nói hoặc viết nhằm đe dọa, xúc phạm, hạ thấp giá trị người khác, vô hình gây nên những tổn thương tâm lý cho người tiếp nhận. Các hình thức bạo lực ngôn từ Bạo lực ngôn ngữ có thể được diễn ra ở bất kì hành động, lời nói nào trong quá trình giao tiếp cho dù người nói cố ý hoặc không cố ý. Có thể những hành vi bạo lực ngôn ngữ sẽ không được thể hiện một cách quá rõ ràng. Những người bạo lực ngôn từ có thể đang thực hiện hành vi bạo lực một cách gián tiếp.
Nó có thể được biểu hiện ở các hình thức: Đặt biệt danh xấu cho người khác: Đối tượng bạo hành sẽ chú ý đến những đặc điểm xấu của người khác để cố tình đặt một biệt danh nào đó cho họ. Nếu biệt danh này khiến cho người đó cảm thấy tự ti với chính mình và mọi người xung quanh thì khi đó họ đang bị bạo hành lời nói. Luôn tìm mọi cách để khiến người khác cảm thấy ngượng ngùng: Những người bạo hành lời nói thường có xu hướng sử dụng những ngôn ngữ mỉa mai, châm biếm, chế nhạo về cách ăn mặc, vóc dáng, ngoại hình, sở thích của người khác nhằm mục đích hạ thấp và làm cho người đó cảm thấy xấu hổ. Hành động này có thể xảy ra ở những nơi riêng tư hoặc kể cả những chỗ đông người.
Trêu ghẹo: Thông thường những đối tượng này sẽ có sở thích trêu đùa, chọc phá người khác bằng những câu nói mà họ cho rằng vui nhộn, hài hước. Tuy nhiên, nếu những từ ngữ mà họ sử dụng không thể khiến cho đối phương cảm thấy vui vẻ, thoải mái thì đó có thể gọi là bạo lực lời nói. Luôn chỉ trích: Cho dù là ở chỗ riêng tư hay là nơi công sở, đông người thì những lời nói chỉ trích không mang tính xây dựng cũng có thể khiến cho người khác cảm thấy bị xúc phạm và tổn thương. Đây cũng được xem là một trong các hành vi bạo hành lời nói mà nhiều người hay gặp phải.
Thường xuyên lớn tiếng: Việc la hét, nói chuyện lớn tiếng hoặc sử dụng những từ ngữ, lời nói không lịch sự, thô lỗ để trò chuyện cùng người khác cũng là một hành vi bạo lực bằng lời nói. Đe dọa: Hình thức đe dọa dù chỉ bằng lời nói, ngôn ngữ cũng có thể được xem là hành vi bạo hành nghiêm trọng. Những lời nói mang tính chất đe dọa, 9 khủng bố, tra tấn sẽ làm người khác cảm thấy lo lắng, sợ hãi, dễ dàng bị kiểm soát và thao túng. Buộc tội, đổ lỗi: Đây cũng được xem là một trong các hành vi bạo hành bằng lời nói khiến cho nhiều người cảm thấy bị tổn thương và hạ thấp danh dự.
Người bạo hành thường sử dụng những lời nói nhằm mục đích buộc tội một ai đó với những tình huống vô lý hoặc ngoài ý muốn. Trong thực tế, bạo lực ngôn từ thường được chia làm hai loại: bạo lực có chủ định và bạo lực không chủ định. Hành vi bạo lực có chủ định là hành vi của những người cố tình dùng ngôn từ để tấn công, công kích ai đó. Hành vi bạo lực không chủ định là hành vi của những người vì kém hiểu biết mà sử dụng những ngôn ngữ cẩu thả, lệch chuẩn, vô tình làm tổn thương người khác, gây ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của cá nhân và tập thể.
Những lời nói miệt thị, xúc phạm, chế giễu trên nhiều phương diện như xúc phạm ngoại hình quá gầy, quá béo, lùn hay quá cao, xấu xí không ưa nhìn; xúc phạm về gia cảnh, xúc phạm về trình độ… bằng những ngôn từ xấu xí, thô tục… khiến người bị hại đau đớn, tổn thương. Những ngôn ngữ này vượt quá phạm vi của sự hợp lý thông thường, vượt ra khỏi ranh giới của đạo đức và pháp luật, uy tín của cá nhân, tổ chức trong xã hội… Đây chính là cách mà người bạo hành đang dần dần hủy hoại một ai đó, một cách từ từ nhưng lại rất tàn nhẫn. Những người thốt ra những câu nói đó không ai khác có khi lại chính là người thân, bạn bè và cộng đồng xung quanh. Đối với các bậc cha mẹ, họ hợp lý hóa “bạo lực ngôn ngữ” khi gọi nó là “dạy dỗ”, “nuôi nấng” đứa trẻ đó tốt nhất có thể, hay họ gọi nó là “Thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi”.
Còn đối với bạn bè những câu nói đó được biện minh là: “Mình chỉ đùa thôi. Mình không có ý xấu”. Tất cả những câu nói đó vô tình đã làm ảnh hưởng đến tinh thần, cảm xúc của người bị bạo lực ngôn ngữ. Nguyên nhân của bạo lực ngôn từ “Nếu trái tim bạn là một đóa hoa hồng, miệng bạn sẽ thốt ra những lời ngát hương” (Ngạn ngữ Anh).
Tuy nhiên, một thực tế hiện nay chúng ta phải đối mặt là con người đã sử dụng ngôn ngữ thiếu văn hoá, tạo nên những lưỡi dao bén nhọn đâm sâu vào tâm hồn người tiếp nhận. Vậy, nguyên nhân của bạo lực ngôn từ là do đâu? Thứ nhất, xuất phát từ ý thức của con người trong việc sử dụng ngôn ngữ dẫn đến thiếu sự cẩn trọng trong quá trình giao tiếp. Đặc biệt, những người trẻ tuổi còn hạn chế về nhận thức, khả năng nhận biết, phân biệt tốt xấu, đúng sai; tâm lý “đám đông”, “a dua” trong một bộ phận không nhỏ của giới trẻ. Thậm chí, có những người giao tiếp thiếu trách nhiệm, muốn thu hút sự chú ý của cộng đồng từ việc muốn khẳng định mình sớm; muốn được nổi tiếng; muốn được cho là sành điệu, “ngầu”, “dân chơi thứ thiệt”.
Đặc biệt nguy hiểm nữa là có những 10 người có hiểu biết, có tri thức, nhưng vẫn cố tình dùng lời lẽ thô tục, thiếu văn hóa, thổi phồng, nói sai sự thật, thiếu kiểm chứng, vô căn cứ nhằm gây mâu thuẫn. Sự phát triển thiếu toàn diện, thiếu hụt về nhân cách, thiếu khả năng kiểm soát hành vi ứng xử của bản thân mỗi người, non nớt trong kĩ năng sống, sai lệch trong quan điểm là môi trường khởi nguồn của bạo lực ngôn từ. Bởi bạo lực ngôn từ thường phát sinh từ sự tức giận, căm ghét, thù địch hoặc sự thất vọng. Khi người ta không kiểm soát được cảm xúc của mình, họ có thể sử dụng ngôn từ để trút giận và làm tổn thương người khác.
Thứ hai, bạo lực ngôn từ do ảnh hưởng từ môi trường sống, nhất là môi trường gia đình. Đó có thể là do gia đình thiếu quan tâm đến con em mình. Cha mẹ chỉ lo làm ăn, cung cấp tiền bạc cho con cái tiêu xài, mà chưa để ý xem con mình học hành như thế nào? Quan hệ với bạn bè tốt xấu ra sao, quan hệ với thầy cô ở trường như thế nào? Chúng có những suy nghĩ như thế nào về cuộc sống, về xã hội? Từ đó, cha mẹ không hiểu được suy nghĩ của con, không kịp thời ngăn chặn, uốn nắn những tư tưởng, những hành động lệch lạc, sai trái của con em mình. Cũng có thể là do, phương pháp giáo dục con của một số bậc cha mẹ không khéo léo, thiếu mềm dẻo trong việc truyền tải thông điệp, nội dung; giáo dục con bằng cách so sánh đứa trẻ với bạn cùng lứa theo kiểu “con nhà người ta” nên vô tình để con trẻ nghĩ sai sự việc, dẫn đến những tổn thương không đáng có.