ĐẶT VẤN ĐỀ I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1. Cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 đã và đang tạo cho thế giới những cơ hội mới nhưng cũng đặt ra cho nhân loại nhiều thách thức phải đối mặt, nó tác động vào mọi lĩnh vực của đời sống, trong đó có giáo dục. Đổi mới giáo dục đã trở thành một nhu cầu cấp thiết và xu thế mang tính toàn cầu.
Trong bối cảnh đó, ngày 26/12/2018, chương trình giáo dục phổ thông tổng thể và chương trình môn học các cấp ở Việt Nam chính thức được ban hành và đưa vào thực hiện ở cấp THPT từ năm học 2022- 2023. Chương trình được xây dựng theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh, tạo môi trường học tập và rèn luyện giúp học sinh phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần, trở thành người học tích cực, tự tin, biết vận dụng các phương pháp học tập tích cực để hoàn chỉnh các tri thức và kĩ năng nền tảng, có ý thức lựa chọn nghề nghiệp và học tập suốt đời; có những phẩm chất tốt đẹp và năng lực cần thiết để trở thành người công dân có trách nhiệm, người lao động có văn hoá, cần cù, sáng tạo, đáp ứng nhu cầu phát triển của cá nhân và yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước trong thời đại toàn cầu hoá và cách mạng công nghiệp mới. Chương trình Ngữ văn 2018 với quan điểm lấy việc rèn luyện các kĩ năng đọc, viết, nói, nghe làm trục chính xuyên suốt cả ba cấp học nhằm đáp ứng yêu cầu định hướng phát triển năng lực người học, bảo đảm tính chỉnh thể, sự nhất quán liên tục trong tất cả các cấp học, lớp học. Các kiến thức phổ thông cơ bản, nền tảng về tiếng Việt và văn học được hình thành qua hoạt động dạy học tiếp nhận và tạo lập văn bản, phục vụ trực tiếp cho yêu cầu rèn luyện các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe.
Bốn kĩ năng này được cụ thể hoá thành nhiều mức độ khác nhau, gắn liền với các phương pháp dạy học phù hợp, hiệu quả, hướng đến việc hình thành các năng lực cơ bản của bộ môn cho học sinh trong đó thời lượng dành cho kĩ năng đọc chiếm khoảng 60%. Điều đó chứng tỏ kĩ năng đọc là cơ bản, nòng cốt gắn với việc tiếp nhận tất cả các loại văn bản. Đối tượng đọc gồm văn bản văn học, văn bản nghị luận và văn bản thông tin. Mỗi kiểu văn bản có những đặc điểm riêng, vì thế cần có cách dạy đọc hiểu văn bản phù hợp.
Khái niệm văn bản thông tin chỉ mới xuất hiện trong chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018, là loại văn bản được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực và hết sức phổ biến trong đời sống xã hội, có vị trí quan trọng trong nhà trường được tổ chức dạy học ở cả 3 cấp học theo nguyên tắc đồng tâm và nâng cao. Nếu như văn bản văn học, văn bản nghị luận đã quen thuộc với học sinh và giáo viên thì loại văn bản này vẫn còn khá mới mẻ trong cách tiếp cận, triển khai dạy học ở trường phổ thông. Học sinh vẫn chưa có những định hướng, phương pháp tiếp nhận thông tin một cách khoa học, chính xác và phù hợp với thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay. Vì vậy, dạy học đọc hiểu văn bản thông tin cần được quan tâm đúng 1 mức nhằm phát triển khả năng tiếp cận tri thức, xây dựng vốn sống, hiểu biết xã hội, rèn luyện kỹ năng sống theo hướng tích cực trong xã hội hiện nay.
Xuất phát từ những lý do trên, nên chúng tôi chọn đề tài: “Một số giải pháp phát triển năng lực đọc văn bản thông tin cho học sinh trong chương trình Ngữ văn 2018” làm nội dung nghiên cứu. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU: - Thấy được thực trạng của việc dạy học đọc hiểu văn bản thông tin trong chương trình Ngữ văn 2018 - Đề xuất các giải pháp thiết thực, cụ thể, hiệu quả nhằm phát triển năng lực đọc văn bản thông tin cho học sinh đáp ứng yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông 2018 - Hình thành cách thức đọc hiểu văn bản thông tin III. PHẠM VI NGHIÊN CỨU: - Phạm vi nghiên cứu: Các văn bản thông tin trong chương trình Ngữ văn lớp 10, 11( Bộ kết nối tri thức với cuộc sống) - Đối tượng: Học sinh lớp 10, 11 THPT - Thời gian: Năm học 2022 - 2023, 2023 - 2024 - Địa điểm: Trường THPT Nguyễn Xuân Ôn và một số trường THPT trên địa bàn huyện Diễn Châu. PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH Để hoàn thành đề tài này, chúng tôi đã sử dụng kết hợp các phương pháp: - Phương pháp phân tích và tổng hợp - Phương pháp điều tra khảo sát - Phương pháp thống kê - Phương pháp thực nghiệm… V.
ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI - Đề tài đưa ra được những giải pháp cụ thể, thiết thực góp phần phát triển năng lực đọc hiểu văn bản thông tin trong chương trình Ngữ văn 2018. Những giải pháp được xây dựng dựa trên thực tiễn của quá trình dạy học có minh họa cụ thể, dễ áp dụng. - Đề tài góp phần đáp ứng yêu cầu đồi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn THPT theo định hướng phát triển năng lực học sinh. - Đề tài có thể nhân rộng cho việc dạy học môn Ngữ văn ở các cấp học, các môn trong chương trình giáo dục phổ thông 2018.
2 PHẦN II: NỘI DUNG I. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Dạy học môn Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực 1. Khái niệm năng lực Trong tiếng Việt cũng như tiếng Anh, từ năng lực được sử dụng với nhiều nghĩa cụ thể, gắn với các lĩnh vực khác nhau, trong những tình huống và ngữ cảnh riêng biệt.
Theo từ điển tiếng Việt: Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó (Hoàng Phê (chủ biên), Viện Ngôn ngữ học – NXB Đà Nẵng, 2000, tr 660-661). Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao. Từ điển năng lực của Đại học Harvard cho rằng, năng lực là những thứ mà một người phải chứng minh có hiệu quả trong việc làm, vai trò, chức năng, công việc, nhiệm vụ. Còn theo Từ điển tâm lý học, năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định.
Theo từ điển này, năng lực không phải là một thuộc tính tâm lý duy nhất nào đó (ví dụ như khả năng tri giác, trí nhớ…) mà là sự tổng hợp các thuộc tính tâm lý cá nhân. Đó là sự thống nhất hữu cơ đáp ứng được những yêu cầu hoạt động và đảm bảo hoạt động đó đạt được kết quả mong muốn. Có thể thấy dù cách diễn đạt có khác nhau, nhưng các cách hiểu trên đều khẳng định: nói đến năng lực là phải nói đến khả năng thực hiện, là phải biết làm chứ không chỉ biết và hiểu. Như vậy có thể hiểu năng lực là một đặc tính có thể đo lường được của một người về kiến thức, kỹ năng, thái độ.
cũng như các phẩm chất cần thiết để hoàn thành được nhiệm vụ. Năng lực là yếu tố giúp một cá nhân làm việc hiệu quả hơn so với những người khác, cũng là một trong những thước đo để đánh giá các cá nhân với nhau. Năng lực có thể được hình thành do tư chất tự nhiên của cá nhân. Tuy nhiên, năng lực phần lớn được hình thành‚ bồi đắp và có được qua quá trình học tập‚ rèn luyện tại cơ sở giáo dục; qua những trải nghiệm thực tế, nỗ lực học hỏi, luyện tập, trau dồi kiến thức trong cuộc sống thường ngày của con người.
Mức độ năng lực là hoàn toàn khác nhau giữa mỗi người và phụ thuộc vào vốn sống‚ sự tiếp thu kiến thức, sự hiểu biết và sự sáng tạo trong từng lĩnh vực của từng cá nhân. Dạy học phát triển năng lực 3 Dạy học theo hướng phát triển NL là mô hình dạy học hướng tới mục tiêu phát triển tối đa phẩm chất và NL của người học thông qua cách thức tổ chức các hoạt động học tập độc lập, tích cực, sáng tạo của HS dưới sự tổ chức, hướng dẫn và hỗ trợ hợp lý của GV. Môn Ngữ Văn được coi là môn công cụ, nó mang đặc thù riêng của môn học. Do vậy, ngoài mục tiêu phát triển những năng lực chung như NL tự chủ và tự học, NL giao tiếp và hợp tác, NL giải quyết vấn đề và sáng tạo thì việc hình thành, phát triển các năng lực đặc thù rất quan trọng.
Môn Ngữ văn giúp HS phát triển NL ngôn ngữ và NL văn học: rèn luyện các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe; có hệ thống kiến thức phổ thông nền tảng về tiếng Việt và văn học, phát triển tư duy hình tượng và tư duy logic, góp phần hình thành học vấn căn bản của một người có văn hoá; biết tạo lập các VB thông dụng; biết tiếp nhận, đánh giá các VB văn học nói riêng, các sản phẩm giao tiếp và các giá trị thẩm mĩ nói chung trong cuộc sống. Các năng lực đặc thù của môn Ngữ văn Ngữ văn là môn học mang tính công cụ và tính thẩm mĩ - nhân văn; giúp HS có phương tiện giao tiếp, làm cơ sở để học tập tất cả các môn học và hoạt động giáo dục khác trong nhà trường; giúp HS khám phá bản thân và thế giới xung quanh, thấu hiểu con người, có đời sống tâm hồn phong phú, có quan niệm sống và ứng xử nhân văn; có tình yêu đối với tiếng Việt và văn học; có ý thức về cội nguồn và bản sắc của dân tộc, góp phần giữ gìn, phát triển các giá trị văn hoá Việt Nam; có tinh thần tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại và khả năng hội nhập quốc tế. Với tư cách là một môn học công cụ và do đặc trưng của mình, môn Ngữ Văn có điều kiện thuận lợi để hình thành và phát triển một số năng lực chung như năng lực giao tiếp, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực hợp tác, năng lực thẩm mĩ và một số năng lực đặc thù.