phần mở đầu, nội dung và kết luận đề xuất 2. Những đóng góp của đề tài Đề tài đã tìm ra được các giải pháp đồng bộ để định hướng hình thành và phát triển phẩm chất năng lực cho học sinh. Giúp cho học sinh trường THPT Cát Ngạn phát triển một cách toàn diện vừa phù hợp với mục tiêu đổi mới chương trình GDPT 2018, giúp các em có cách học cách tiếp cận mới của môn học. PHẦN NỘI DUNG.
Cơ sở lý luận và tực tiễn. Lí luận về chương trình giáo dục phổ thông 2018. Chương trình GDPT 2018 thể hiện mục tiêu giáo dục phổ thông, quy định các yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của học sinh, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và phương pháp đánh giá kết quả giáo dục, làm căn cứ quản lí chất lượng giáo dục phổ thông; đồng thời là cam kết của Nhà nước nhằm bảo đảm chất lượng của cả hệ thống và từng cơ sở giáo dục phổ thông. Chương trình GDPT 2018 bao gồm chương trình tổng thể , các chương trình môn học và hoạt động giáo dục.
Chương trình bảo đảm định hướng thống nhất và những nội dung giáo dục cốt lõi, bắt buộc đối với học sinh toàn quốc, đồng thời trao quyền chủ động và trách nhiệm cho địa phương, nhà trường trong việc lựa chọn, bổ sung một số nội dung giáo dục và triển khai kế hoạch giáo dục phù hợp với đối tượng giáo dục và điều kiện của địa phương, của nhà trường, góp phần bảo đảm kết nối hoạt động của nhà trường với gia đình, chính quyền và xã hội; Chương trình chỉ quy định những nguyên tắc, định hướng chung về yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của học sinh, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và việc đánh giá kết quả giáo dục, không quy định quá chi tiết, để tạo điều kiện cho tác giả sách giáo khoa và giáo viên phát huy tính chủ động, sáng tạo trong thực hiện chương trình; Chương trình bảo đảm tính ổn định và khả năng phát triển trong quá trình thực hiện cho phù hợp với tiến bộ khoa học - công nghệ và yêu cầu của thực tế. Chương trình GDPT 2018 cụ thể hoá mục tiêu giáo dục phổ thông, giúp học sinh làm chủ kiến thức phổ thông, biết vận dụng hiệu quả kiến thức, kỹ năng đã học vào đời sống và tự học suốt đời, có định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp, biết xây dựng và phát triển hài hoà các mối quan hệ xã hội, có cá tính, nhân cách và đời sống tâm hồn phong phú, nhờ đó có được cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước và nhân loại. Chương trình GDPT 2018 đặt ra yêu cầu về phảm chất và năng lực như sau: * Về phẩm chất: Chương trình GDPT 2018 hình thành và phát triển cho học sinh 5 phẩm chất chủ yếu : Yêu nước - Nhân ái - Chăm chỉ - Trung thực và Trách nhiệm. * Về năng lực: Chương trình GDPT 2018 hình thành và phát triển cho học sinh những năng lực cốt lõi sau: + 03 năng lực chung được hình thành, phát triển thông qua tất cả các môn học và hoạt động giáo dục gồm: 11 Năng lực tự chủ và tự học; Năng lực giao tiếp và hợp tác; Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo; + 07 năng lực đặc thù được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định gồm: Năng lực ngôn ngữ; Năng lực tính toán; Năng lực khoa học; Năng lực công nghệ; Năng lực tin học;Năng lực thẩm mĩ, Năng lực thể chất.
Bên cạnh việc hình thành, phát triển các năng lực cốt lõi, chương trình giáo dục phổ thông còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu của học sinh. Lí luận về đổi mới phương pháp dạy học. Đổi mới phương pháp dạy học là việc làm thay đổi và cải tiến các hình thức dạy học còn nhiều những bất cập, không phù hợp trong thời đại và kỷ nguyên mới. Đổi mới ở đây là sự thay đổi từ cách nhìn nhận, cách khai thác và truyền thụ kiến thức.
Đồng thời, đó cũng là sự thay đổi trong mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh. Cách học sinh lắng nghe và đưa ra phản biện. Việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm tạo ra một môi trường tốt hơn cho cả thầy và trò để giáo viên có thể giảng dạy và phát huy tối đa năng lực. Song song với đó, học sinh cũng sẽ được tạo cơ hội để phát triển một cách tốt nhất, toàn diện nhất.
Phương pháp giảng dạy là yếu tố quan trọng và ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng đào tạo. Phương pháp dạy học có hiệu quả thì mới có thể tạo ra sự đam mê, thích thú của cả giáo viên lẫn học sinh. Chính từ sự hứng thú đó mà giáo viên cũng như người học có thể phát huy tối đa những tương tác cùng khả năng để phát triển tư duy một cách tốt hơn. Cơ sở thực tiễn.
Kỹ năng nói được đánh giá là phần quan trọng trong việc hình thành và phát triển năng lực giao tiếp bằng một ngôn ngữ của mỗi người. Việc thiếu hụt kỹ năng nghe trong các hoạt động giao tiếp sẽ là một cản trở rất lớn đối với mỗi người trong xã hội bùng nổ công nghệ thông tin 4.0 và kỷ nguyên số. Nói là khả năng diễn đạt lời nói dưới dạng âm thanh, thể hiện ở việc người nói dùng khẩu ngữ để truyền đạt thông tin, biểu đạt tư tưởng, tình cảm một cách chính xác, sinh động, có sức thuyết phục. Làm chủ được kỹ năng nói sẽ giúp người nói tạo ra mối quan hệ tốt đẹp trong giao tiếp, tự khẳng định mình và là công cụ tạo ảnh hưởng với người khác.
Thực tế đã chứng minh những người giao tiếp bằng lời nói hiệu quả sẽ có nhiều cơ hội thành công hơn trong trường học và trong các lĩnh vực khác của cuộc sống. Tuy nhiên, hiện nay, một bộ phận học sinh trung học còn yếu về kỹ năng nói. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này. Dễ thấy nhất là học sinh ngại nói trong giờ học, có tâm lí ngượng ngùng, dè dặt vì sợ nói sai, không có đủ thông 12 tin để diễn đạt.
Sự hạn chế về vốn sống, vốn hiểu biết và kinh nghiệm giao tiếp, ít giao lưu trong gia đình, tập thể dẫn đến việc học sinh không chủ động, linh hoạt trong việc thực hiện các chủ đề, hình thức nói. Các hoạt động tập thể cần đến việc trao đổi, thảo luận, diễn thuyết, hùng biện,. ít và khó được tổ chức nên học sinh không có nhiều điều kiện để rèn luyện kỹ năng. Số lượng học sinh ở mỗi lớp học khá đông nên việc rèn luyện kỹ năng nói cho từng học sinh còn hạn chế.
Một bộ phận giáo viên chú trọng rèn luyện kỹ năng viết, chưa có phương pháp phù hợp, sáng tạo để khuyến khích, tạo điều kiện và phát triển năng lực nói cho học sinh. Nhu cầu giao tiếp, truyền thông quốc tế ngày càng mở rộng trong thời đại thông tin đã khiến nhiều người tham gia vào các lớp học ngôn ngữ để nâng cao khả năng nói của mình. Chương trình giáo dục phổ thông thể hiện sự quan tâm nhất định đến việc phát triển toàn diện các kỹ năng hoạt động lời nói cho người học, trong đó có kỹ năng nghe. Bởi vậy, cần thiết có một sự nhìn nhận thỏa đáng và có những nghiên cứu thiết thực để tìm ra những cách thức dạy học kỹ năng nói hiệu quả cho học sinh.
Thực trạng của việc dạy học phần Nói và Nghe trong chƣơng trình Ngữ Văn 10 tại trƣờng THPT Cát Ngạn. Thuận lợi, khó khăn. Thuận lợi: Giáo viên trường THPT Cát Ngạn tuổi đời còn trẻ năng động, việc tiếp cận với chương trình GDPT mới nhanh, sử dụng các giải pháp nâng cao chất lượng vào trong dạy học môn Ngữ Văn thuận lợi dễ dàng. Cơ sở vật chất ngày càng được tăng cường, các công trình phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập, sinh hoạt cơ bản đảm bảo và phát huy tốt hiệu quả.
Đời sống vật chất, tinh thần của phụ huynh và học sinh ngày được nâng cao góp phần vào việc nâng cao chất lược học tập môn Ngữ văn. Bộ môn văn luôn nhận được sự ủng hộ, quan tâm giúp đỡ của cấp uỷ, sự hỗ trợ của các nhóm ngữ văn trường bạn trong việc dạy học theo chương trình GDPT 2018, trong đó việc phối hợp để giáo dục các học sinh chậm tiến học sinh có học lực yếu, học sinh yếu thế về bộ môn văn được quan tâm thường xuyên. Bên cạnh đó các bậc phụ huynh có con em theo học tại trường thường xuyên liên lạc trao đổi góp ý cho nhà trường về việc phối hợp giáo dục con em trong học tập và rèn luyện, đặc biệt là giao tiếp ứng xử của người học. Hạn chế khó khăn Cơ sở vật chất, trang thiết bị cho việc dạy học còn hạn chế hơn so với các trường cùng cấp trong tỉnh.
Mặt khác, trường đóng trên địa bàn thuộc xã miền núi, vùng đặc biệt khó khăn, trường ở xa khu dân cư, điều kiện xã hội hết sức khó khăn như việc tiếp cận thông tin văn hóa thường ngày, điều kiện học tập, điều kiện sống 13 của nhân dân nơi đây là rất thấp nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc học tập của các em học sinh. Chất lượng đầu vào thấp các em đến từ nhiều vùng miền khác nhau, trong đó có 1/4 học sinh của nhà trường là con em đồng bào dân tộc thuộc hai xã tái định cư Ngọc Lâm và Thanh Sơn cho nên năng lực học tập của các em cũng không đồng đều, nhiều em đọc chưa rõ, viết chưa đúng. Do đó, gặp rất nhiều hạn chế trong tiếp thu bài giảng và tất nhiên cũng khó khăn hơn nhiều cho giáo viên khi tiếp cận và giảng dạy đối với những học sinh này so với các em học sinh khác. Kết quả thống kê về học lực và điểm tuyển sinh đầu vào của ba năm học từ năm học 2022-2023, 2023-2024 Học lực học sinh đầu cấp Trung Điểm xét tuyển vào lớp 10 Số Giỏi Khá Yếu bình học Năm Từ 20 Từ 10 sinh học Trên 30 điểm đến điểm đến Dƣới 10 lớp S S S S % % % % điểm dƣới 30 dƣới 20 điểm 10 L L L L điểm điểm SL % SL % SL % SL % 2022 13 199 3 1.