Nâng cao hiệu quả phiếu học tập chương cấu tạo nguyên tử Hóa 10

SKKN cấp tỉnh: Giải pháp nâng cao hiệu quả thiết kế & sử dụng phiếu học tập chương cấu tạo nguyên tử, Hóa học 10. Ứng dụng thực tiễn, dễ dàng áp dụng.

Trường đại học

Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng

Chuyên ngành

Hóa Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Sáng kiến kinh nghiệm

2023 – 2024

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỤC LỤC

A. PHẦN A: ĐẶT VẤN ĐỀ

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1. Lý do chọn đề tài

2. Điểm mới của đề tài

3. Phạm vi áp dụng

B. PHẦN B: NỘI DUNG. CƠ SỞ KHOA HỌC

I. Tổng quan về phiếu học tập

1. Cấu trúc phiếu học tập

2. Phân loại phiếu học tập

3. Tác dụng của phiếu học tập

4. Yêu cầu sƣ phạm

II. Thực trạng của việc thiết kế và sử dụng PHT trong dạy học môn Hóa học ở một số trƣờng trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Vinh

1. Mục đích điều tra, khảo sát

2. Cơ sở thực tiễn

III. TỔNG QUAN CHUNG VỀ THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG PHIẾU HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC CHƢƠNG CẤU TẠO NGUYÊN TỬ MÔN HOÁ HỌC 10

1. Nguyên tắc và quy trình thiết kế phiếu học tập

1.1. Một số nguyên tắc khi thiết kế phiếu học tập
1.2. Quy trình thiết kế phiếu học tập

2. Nguyên tắc, hình thức và quy trình sử dụng phiếu học tập

2.1. Nguyên tắc sử dụng phiếu học tập
2.2. Các hình thức sử dụng PHT
2.3. Quy trình sử dụng phiếu học tập

IV. MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG PHIẾU HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC CHƢƠNG CẤU TẠO NGUYÊN TỬ MÔN HOÁ HỌC 10

1. Hình thức của phiếu học tập

1.1. Sử dụng công nghệ thông tin trong thiết kế phiếu học tập
1.2. Kết hợp phiếu học tập với truyện tranh để tạo hứng thú cho HS
1.3. Thiết kế phiếu học tập dƣới dạng trò chơi
1.4. Khả năng áp dụng đại trà và tái sử dụng

2. Nội dung phiếu học tập

2.1. Nội dung phiếu học tập cần phù hợp với đối tƣợng học sinh và điều kiện cơ sở vật chất của nhà trƣờng
2.2. Nội dung phiếu học tập cần có tính thực tiễn, khơi dậy trí tò mò, ham hiểu biết của HS

3. Cách thức sử dụng phiếu học tập

3.1. Kết hợp phiếu học tập với các phƣơng pháp và kĩ thuật dạy học tích cực khác
3.2. Sử dụng phiếu học tập cần phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS

V. THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM

1. Mục đích thực nghiệm sƣ phạm

2. Nhiệm vụ thực nghiệm sƣ phạm

3. Đối tƣợng thực nghiệm sƣ phạm

4. Xây dựng kế hoạch dạy học

5. Kết quả kiểm tra đánh giá

C. PHẦN C: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

I. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT

1. Đối với các cấp lãnh đạo

2. Đối với tổ chuyên môn, giáo viên

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng quan PHT Hóa 10 Nâng cao hiệu quả dạy cấu tạo nguyên tử

Chương cấu tạo nguyên tử là nền tảng của Hóa học lớp 10, nhưng thường bị coi là khô khan và trừu tượng. Để giải quyết vấn đề này, việc sử dụng Phiếu học tập (PHT) được xem là một phương tiện dạy học hiệu quả. PHT không chỉ là công cụ hỗ trợ giáo viên truyền đạt kiến thức mà còn là phương tiện để học sinh chủ động tham gia vào quá trình học tập. Theo SKKN của Nguyễn Thị Hòa và Vương Thị Nga, PHT giúp chuyển đổi phương pháp dạy học từ truyền thụ một chiều sang dạy học tích cực, phát huy tính tự giác, sáng tạo của học sinh. Một phiếu học tập Hóa 10: Cấu tạo nguyên tử (Hiệu quả) được thiết kế tốt sẽ giúp hệ thống hóa các kiến thức trọng tâm như thành phần nguyên tử, cấu trúc hạt nhân nguyên tử, và quy luật sắp xếp electron trên vỏ electron. Mục tiêu chính là biến những lý thuyết cấu tạo nguyên tử lớp 10 trở nên dễ tiếp cận hơn, tạo hứng thú ngay từ chương đầu tiên, đặt nền móng vững chắc cho các phần kiến thức sau. Việc sử dụng PHT còn giúp giáo viên đánh giá khách quan, thường xuyên quá trình học tập của học sinh, từ đó có những điều chỉnh kịp thời. Thông qua việc giải quyết các nhiệm vụ trong phiếu, học sinh hình thành năng lực tự học, tư duy logic và kỹ năng hợp tác. Đây là một công cụ đơn giản nhưng mang lại hiệu quả cao, đặc biệt phù hợp với tài liệu hóa học 10 chương trình mới theo định hướng phát triển năng lực.

1.1. Vai trò của phiếu học tập trong chương trình Hóa học 10 mới

Trong chương trình giáo dục phổ thông mới, vai trò của PHT không chỉ dừng lại ở việc cung cấp bài tập. PHT là một phương tiện để tổ chức hoạt động học tập độc lập, giúp học sinh lĩnh hội và củng cố kiến thức. Nó góp phần đổi mới phương pháp dạy học, chuyển hoạt động của giáo viên từ giảng giải sang hướng dẫn, chỉ đạo. Thông qua đó, học sinh được phát huy tính tích cực, chủ động trong việc tìm hiểu các khái niệm về hạt proton, nơtron, electron. Đặc biệt, các bài tập cấu tạo nguyên tử được trình bày khoa học trong PHT giúp học sinh rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề và tư duy phản biện.

1.2. Các kiến thức cốt lõi về thành phần nguyên tử cần nắm vững

Nội dung PHT chương cấu tạo nguyên tử cần tập trung vào các kiến thức cốt lõi. Đầu tiên là thành phần nguyên tử, bao gồm hạt nhân và vỏ electron. Học sinh phải nắm được đặc điểm của ba loại hạt cơ bản: proton, nơtron, và electron. Tiếp theo là các đại lượng đặc trưng như số hiệu nguyên tử (Z), điện tích hạt nhân, và số khối A. Khái niệm về đồng vị và cách tính nguyên tử khối trung bình cũng là một phần quan trọng. Cuối cùng, PHT phải hướng dẫn học sinh cách viết cấu hình electron dựa trên các nguyên lý và quy tắc về lớp và phân lớp electron, nền tảng để hiểu về tính chất hóa học của nguyên tố.

II. Thách thức khi dạy cấu tạo nguyên tử bằng phiếu học tập cũ

Mặc dù PHT là công cụ hữu ích, việc thiết kế và sử dụng nó trong thực tế gặp không ít khó khăn. Theo khảo sát tại các trường THPT trên địa bàn TP. Vinh được nêu trong SKKN, thách thức lớn nhất đối với giáo viên là “mất nhiều thời gian chuẩn bị” (81,3%) và “tốn kém kinh phí in ấn” (50%). Nhiều giáo viên vẫn sử dụng PHT theo lối mòn, chỉ bao gồm các câu hỏi lý thuyết và bài tập đơn điệu, chưa thực sự khai thác được tiềm năng của công cụ này. Điều này dẫn đến các phiếu học tập Hóa 10 về cấu tạo nguyên tử chưa thực sự hiệu quả, không tạo được sự hứng thú cho học sinh. Nội dung và hình thức sử dụng chưa phong phú, chưa phát huy được tính tích cực, chủ động của người học. Một số giáo viên ngại đổi mới, chưa biết cách kết hợp PHT với các phương pháp dạy học hiện đại. Về phía học sinh, năng lực không đồng đều trong một lớp cũng là một rào cản. Nhiều em có tâm lý sợ Hóa do hổng kiến thức, khiến việc hoàn thành PHT trở nên khó khăn, dẫn đến tình trạng ỷ lại, trông chờ vào bạn bè. Những PHT truyền thống chưa giải quyết được bài toán này, thậm chí còn có thể làm gia tăng sự chán nản đối với môn học.

2.1. Khó khăn của giáo viên Thời gian kinh phí và ý tưởng thiết kế

Trở ngại chính mà giáo viên đối mặt là áp lực về thời gian và chi phí. Để biên soạn một PHT chất lượng, giáo viên phải đầu tư nhiều thời gian nghiên cứu, thiết kế sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh. Chi phí in ấn, sao chép cũng là một vấn đề, đặc biệt khi muốn áp dụng đại trà. Bên cạnh đó, việc thiếu ý tưởng sáng tạo khiến các PHT thường lặp đi lặp lại, chỉ tập trung vào các dạng trắc nghiệm chương 1 hóa 10 hoặc điền khuyết cơ bản, không khơi gợi được sự tò mò. SKKN chỉ ra rằng nhiều giáo viên chưa biết đến các công cụ hỗ trợ như Canva để làm cho PHT sinh động hơn.

2.2. Vấn đề của học sinh Lý thuyết hàn lâm và sự thiếu hứng thú

Chương cấu tạo nguyên tử chứa nhiều kiến thức lý thuyết hàn lâm, đòi hỏi học sinh phải hình dung, tưởng tượng nhiều. Nếu PHT chỉ đơn thuần là các dòng chữ và câu hỏi khô khan, học sinh sẽ nhanh chóng cảm thấy nhàm chán và mất tập trung. Thực trạng này dẫn đến hiệu quả học tập không cao, học sinh không hiểu sâu bản chất vấn đề, chỉ học thuộc một cách máy móc. Sự thiếu hứng thú này là một trong những nguyên nhân chính khiến học sinh không yêu thích môn Hóa, ảnh hưởng đến kết quả học tập lâu dài.

III. Bí quyết thiết kế phiếu học tập Hóa 10 sáng tạo hiệu quả

Để vượt qua các thách thức, SKKN đề xuất nhiều giải pháp đột phá trong việc thiết kế phiếu học tập Hóa 10: Cấu tạo nguyên tử (Hiệu quả). Yếu tố cốt lõi là sự sáng tạo trong cả nội dung và hình thức. Về hình thức, việc ứng dụng công nghệ thông tin là chìa khóa. Sử dụng phần mềm Canva cho phép tạo ra các PHT có hình ảnh trực quan, màu sắc hấp dẫn, bố cục chuyên nghiệp mà không đòi hỏi kỹ năng thiết kế phức tạp. Việc chèn mã QR-Code liên kết đến các video thí nghiệm mô phỏng (ví dụ thí nghiệm tìm ra electron của J.J. Thomson) giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách sinh động. Nội dung PHT không chỉ dừng lại ở câu hỏi lý thuyết mà cần được đa dạng hóa. SKKN giới thiệu phương pháp kết hợp PHT với truyện tranh để dẫn dắt vào bài học một cách tự nhiên, hoặc thiết kế dưới dạng trò chơi như “Giải mật thư”, “Hoa trí tuệ” để củng cố kiến thức. Một nguyên tắc quan trọng là nội dung PHT phải phù hợp với đối tượng học sinh và có tính thực tiễn, khơi dậy trí tò mò. Ví dụ, việc đưa vào PHT câu hỏi về ứng dụng của đồng vị trong việc xác định doping ở vận động viên giúp học sinh thấy được sự liên quan giữa Hóa học và đời sống.

3.1. Ứng dụng công nghệ Thiết kế PHT bằng Canva và mã QR Code

Phần mềm Canva là công cụ miễn phí và trực quan, giúp giáo viên dễ dàng tạo ra các PHT chuyên nghiệp. Với hàng ngàn mẫu có sẵn, giáo viên có thể tùy chỉnh để tạo ra các sản phẩm đẹp mắt, lồng ghép hình ảnh về obitan nguyên tử hay mô hình các nguyên tố. Bên cạnh đó, việc tạo mã QR-Code để liên kết tới các video, tài liệu tham khảo là một giải pháp hiệu quả. Học sinh chỉ cần dùng điện thoại quét mã là có thể xem ngay video thí nghiệm hoặc bài giảng bổ sung, giúp việc tự học trở nên dễ dàng và thú vị hơn, đồng thời tiết kiệm không gian trên trang giấy.

3.2. Tích hợp trò chơi và truyện tranh để tăng tương tác cho HS

Gamification (trò chơi hóa) là một xu hướng hiệu quả. SKKN đã minh họa việc thiết kế PHT dưới dạng trò chơi “Giải mật thư”, nơi mỗi câu trả lời đúng về cấu hình electron hay số khối A sẽ mở ra một chữ cái của từ khóa cuối cùng. Hình thức này kích thích tinh thần cạnh tranh lành mạnh và sự hợp tác nhóm. Tương tự, việc sử dụng một mẩu truyện tranh ngắn để giới thiệu về cấu trúc vỏ electron sẽ hấp dẫn hơn nhiều so với một đoạn văn bản thuần túy, giúp học sinh nhập tâm vào bài học một cách tự nhiên.

IV. Phương pháp sử dụng phiếu học tập để phát huy năng lực học sinh

Thiết kế một PHT tốt mới chỉ là bước đầu. Hiệu quả thực sự đến từ cách thức tổ chức sử dụng nó trong lớp học. SKKN nhấn mạnh việc kết hợp PHT với các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực khác. Thay vì để học sinh làm việc cá nhân một cách im lặng, giáo viên nên tổ chức các hoạt động thảo luận nhóm. Kĩ thuật “khăn trải bàn” hay xây dựng sơ đồ tư duy cấu tạo nguyên tử là những cách hiệu quả để các thành viên trong nhóm cùng đóng góp ý kiến và hệ thống hóa kiến thức. Một phương pháp tiên tiến được đề cập là học tập theo trạm. Lớp học được chia thành các trạm, mỗi trạm có một PHT với nhiệm vụ chuyên biệt, ví dụ: Trạm 1 tập trung vào thành phần nguyên tử, Trạm 2 giải các bài tập về đồng vị. Học sinh sẽ di chuyển lần lượt qua các trạm, giúp thay đổi không khí lớp học và đảm bảo mọi học sinh đều được tham gia vào các khía cạnh khác nhau của bài học. Quan trọng nhất, giáo viên phải đóng vai trò là người hướng dẫn, quan sát và hỗ trợ, đồng thời tạo cơ chế để học sinh tự đánh giá và đánh giá chéo lẫn nhau. Điều này không chỉ giúp củng cố kiến thức mà còn phát triển các năng lực quan trọng như giao tiếp, hợp tác và giải quyết vấn đề.

4.1. Kết hợp kỹ thuật dạy học tích cực Thảo luận nhóm sơ đồ tư duy

Việc sử dụng PHT trong thảo luận nhóm biến PHT thành trung tâm của hoạt động hợp tác. Giáo viên có thể giao một PHT chung cho cả nhóm để cùng giải quyết. Sau khi hoàn thành, các nhóm có thể trình bày kết quả của mình dưới dạng một sơ đồ tư duy cấu tạo nguyên tử. Phương pháp này giúp hệ thống hóa kiến thức một cách logic, trực quan, đồng thời rèn luyện kỹ năng tổng hợp và trình bày thông tin cho học sinh. Đây là cách học sâu, giúp ghi nhớ kiến thức lâu hơn so với việc chỉ ghi chép đơn thuần.

4.2. Triển khai mô hình học tập theo trạm với các PHT chuyên biệt

Mô hình học tập theo trạm là một giải pháp đột phá được SKKN giới thiệu. Mỗi trạm tương ứng với một PHT tập trung vào một đơn vị kiến thức nhỏ, ví dụ: một trạm để xác định số proton, nơtron, electron; một trạm để viết cấu hình electron. Học sinh hoạt động theo nhóm nhỏ và luân chuyển qua các trạm trong một khoảng thời gian nhất định. Cách làm này phá vỡ sự đơn điệu của tiết học, tăng cường sự vận động và tương tác, đồng thời cho phép giáo viên quan sát và hỗ trợ từng nhóm một cách hiệu quả hơn.

V. Kết quả thực nghiệm về phiếu học tập Hóa 10 cấu tạo nguyên tử

Tính hiệu quả của các giải pháp đề xuất đã được kiểm chứng thông qua thực nghiệm sư phạm tại trường THPT Huỳnh Thúc Kháng. SKKN đã so sánh kết quả học tập giữa lớp thực nghiệm 10A3 (sử dụng PHT cải tiến) và hai lớp đối chứng 10A4, 10A5 (dạy theo phương pháp truyền thống). Kết quả kiểm tra 15 phút và 45 phút cho thấy sự khác biệt rõ rệt. Ở lớp thực nghiệm 10A3, tỉ lệ học sinh đạt điểm Giỏi (9-10) cao hơn đáng kể, trong khi tỉ lệ Yếu kém (<5) giảm mạnh so với các lớp đối chứng. Cụ thể, trong bài kiểm tra 45 phút, lớp 10A3 có 17,78% đạt điểm Giỏi, trong khi lớp 10A4 chỉ có 9,52% và 10A5 là 11,36%. Tỉ lệ Yếu kém của lớp 10A3 chỉ là 2,22%, thấp hơn nhiều so với 4,76% và 9,09% ở hai lớp đối chứng. Những con số này là minh chứng thuyết phục cho thấy phiếu học tập Hóa 10: Cấu tạo nguyên tử (Hiệu quả) khi được thiết kế và sử dụng đúng cách sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy và học. Ngoài kết quả học tập, SKKN cũng ghi nhận những thay đổi tích cực về thái độ: học sinh ở lớp thực nghiệm tỏ ra hứng thú, chủ động và tích cực tham gia vào bài học hơn.

5.1. Phân tích kết quả kiểm tra Sự khác biệt giữa lớp TN và ĐC

Dữ liệu từ thực nghiệm sư phạm cho thấy một bức tranh rõ ràng. Với bài kiểm tra 15 phút, lớp thực nghiệm 10A3 đạt 22,22% điểm Giỏi, cao hơn gấp đôi so với lớp đối chứng 10A4 (9,52%) và 10A5 (9,09%). Tương tự, tỉ lệ học sinh đạt điểm Khá ở lớp 10A3 là 42,23%, vượt trội so với 30,95% và 27,27% ở các lớp đối chứng. Sự chênh lệch này khẳng định tính ưu việt của phương pháp sử dụng PHT đổi mới, giúp học sinh nắm vững kiến thức và vận dụng tốt hơn vào việc giải các bài tập cấu tạo nguyên tử.

5.2. Chuyển biến tích cực về thái độ và hứng thú học tập của HS

Bên cạnh những con số, hiệu quả của phương pháp còn thể hiện qua sự thay đổi trong không khí lớp học. SKKN nhận định: “đa số HS đều thích GV sử dụng phiếu học tập có kết hợp lồng ghép các nội dung như video thí nghiệm, truyện tranh, trò chơi”. Giờ học trở nên sôi động, học sinh được bày tỏ ý kiến và hợp tác với nhau. Việc này không chỉ giúp các em tiếp thu bài nhanh hơn mà còn hình thành các năng lực cần thiết như giải quyết vấn đề, tinh thần hợp tác, và thói quen tự học.

VI. Kết luận kiến nghị Hướng đi cho phiếu học tập Hóa học 10

Nghiên cứu và áp dụng các giải pháp trong SKKN đã chứng minh rằng việc thiết kế và sử dụng phiếu học tập Hóa 10: Cấu tạo nguyên tử một cách đa dạng, linh hoạt và sáng tạo mang lại hiệu quả vượt trội. Phương pháp này đáp ứng đúng yêu cầu đổi mới dạy học theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh. Các PHT được thiết kế tốt không chỉ là công cụ truyền tải kiến thức về thành phần nguyên tử hay cấu hình electron mà còn là chất xúc tác tạo ra sự hứng thú, khơi dậy đam mê khám phá khoa học. Kết quả thực nghiệm đã khẳng định tính đúng đắn và khả thi của các giải pháp được đề xuất. Từ thành công này, có thể thấy việc áp dụng hệ thống PHT tương tác không chỉ giới hạn trong chương cấu tạo nguyên tử mà hoàn toàn có thể nhân rộng ra các chương khác của môn Hóa học và các môn học khác. Để phương pháp này được phổ biến, cần có sự đầu tư và khuyến khích từ các cấp quản lý, sự chia sẻ kinh nghiệm trong tổ chuyên môn và quan trọng nhất là sự chủ động, sáng tạo không ngừng của mỗi giáo viên. Đây chính là hướng đi bền vững để nâng cao chất lượng giáo dục trong bối cảnh hiện nay.

6.1. Tổng kết các giải pháp nâng cao hiệu quả PHT cấu tạo nguyên tử

Các giải pháp chính bao gồm: (1) Đổi mới hình thức PHT bằng công nghệ (Canva, QR-Code) và các yếu tố sáng tạo (truyện tranh, trò chơi); (2) Xây dựng nội dung PHT phù hợp với đối tượng, gắn liền với thực tiễn; (3) Kết hợp sử dụng PHT với các kĩ thuật dạy học tích cực như làm việc nhóm, học theo trạm; (4) Chú trọng khâu tổ chức, hướng dẫn và đánh giá để phát huy tính chủ động của học sinh. Những giải pháp này tạo thành một hệ thống đồng bộ, tác động toàn diện đến quá trình dạy và học.

6.2. Đề xuất áp dụng và phát triển PHT cho các chủ đề khác

SKKN đề xuất cần tăng cường các buổi sinh hoạt chuyên môn để chia sẻ kinh nghiệm thiết kế và sử dụng PHT. Giáo viên cần chủ động học hỏi, cập nhật các công cụ và phương pháp mới. Các cấp lãnh đạo cần khuyến khích, khen thưởng kịp thời những sáng kiến đổi mới. Mô hình PHT hiệu quả từ chương cấu tạo nguyên tử có thể được điều chỉnh và áp dụng cho các chương khó khác như Bảng tuần hoàn, Liên kết hóa học, Oxi hóa – khử, góp phần nâng cao chất lượng dạy học Hóa học một cách toàn diện.

11/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1. Lý do chọn đề tài Trong những năm gần đây, nền giáo dục nƣớc ta đã có nhiều thành tựu đáng kể trong việc đổi mới phƣơng pháp dạy học nhằm nâng cao chất lƣợng giáo dục toàn diện cho học sinh, góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Một trong những xu hƣớng đổi mới phƣơng pháp dạy học đang đƣợc quan tâm hiện nay là chuyển từ lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học tích cực nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và phát triển tƣ duy học sinh (HS), từ đó nâng cao chất lƣợng dạy và học.

Để làm đƣợc điều này, ngoài việc nắm vững kiến thức chuyên môn, giáo viên (GV) còn phải biết sử dụng một cách hợp lý nhiều phƣơng pháp (PP), phƣơng tiện, hình thức tổ chức dạy học khác,…trong đó, việc lựa chọn, sử dụng các phƣơng tiện dạy học (PTDH) phù hợp là yếu tố quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả dạy học. Hiện nay trong số rất nhiều PTDH đã và đang là công cụ hỗ trợ đắc lực trong việc nâng cao chất lƣợng dạy học là sử dụng phiếu học tập. Phiếu học tập (PHT) giúp GV dễ dàng hơn trong các hoạt động trình bày, giảng giải, thuyết minh, hƣớng dẫn, … giúp HS tham gia hoạt động một cách tích cực, chủ động, linh hoạt,. và tiết kiệm thời gian.

Mặc dù vậy, hiện nay một số GV chƣa chịu khó tìm tòi, học hỏi cách thiết kế và sử dụng PHT một cách hiệu quả. Chƣơng cấu tạo nguyên tử là chƣơng đầu tiên của môn Hoá học 10, nặng về kiến thức lí thuyết hàn lâm, HS phải hình dung tƣởng tƣợng nhiều dễ gây sự nhàm chán nhƣng nếu GV sử dụng PHT hiệu quả sẽ gây đƣợc hứng thú học tập cho HS từ đó sẽ là tiền đề để HS có thể học tốt các phần còn lại và yêu thích môn hóa học hơn. Từ thực tế đó, chúng tôi đã lựa chọn và nghiên cứu đề tài: “Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả thiết kế và sử dụng phiếu học tập chương cấu tạo nguyên tử môn Hoá học 10”. Tuy nhiên, đề tài này không tránh đƣợc các thiếu sót, chúng tôi rất mong đƣợc sự góp ý của các đồng nghiệp.

Điểm mới của đề tài Nghiên cứu những thuận lợi, khó khăn thƣờng gặp khi thiết kế và sử dụng PHT. Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả thiết kế và sử dụng PHT nhằm góp phần tạo động cơ, sự hứng thú, yêu thích môn học; đổi mới đa dạng hoá phƣơng pháp dạy học môn Hoá học của giáo viên; để thực sự phát huy đƣợc tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS. Từ đó nâng cao chất lƣợng dạy học môn Hoá học THPT. Thiết kế hệ thống PHT và một số bài giảng có sử dụng PHT chƣơng cấu tạo nguyên tử môn hóa học lớp 10 nhằm hỗ trợ cho việc dạy và học, giúp HS nắm vững, hiểu sâu kiến thức.

Hệ thống PHT này là nguồn tƣ liệu dạy học cho bản 1 thân, ngoài ra đây còn là một gợi ý tham khảo, định hƣớng cho GV khi muốn thiết kế và sử dụng phiếu học tập theo hƣớng mới. Phạm vi áp dụng Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả thiết kế và sử dụng phiếu học tập chương cấu tạo nguyên tử môn Hoá học 10” đã đƣợc tổ chuyên môn trao đổi, thảo luận, thống nhất áp dụng vào thực tế tại trƣờng THPT Huỳnh Thúc Kháng, Thành phố Vinh, Nghệ An và một số trƣờng THPT lân cận, phù hợp với chƣơng trình giáo dục phổ thông mới 2018 đã mang lại hiệu quả cao. PHẦN B: NỘI DUNG I. CƠ SỞ KHOA HỌC 1.

Tổng quan về phiếu học tập 1. Khái niệm PHT là một loại PTDH đƣợc GV chuẩn bị sẵn khi soạn bài, phục vụ cho tiết học. Nguồn thông tin để HS hoàn thành PHT có thể là từ sách giáo khoa, từ hình vẽ, từ các thí nghiệm, từ mô hình, hoặc từ những tài liệu GV giao cho HS sƣu tầm trƣớc khi học. Nội dung trong phiếu là các yêu cầu hay hƣớng dẫn của GV ứng với từng hoạt động dạy học cụ thể, hoặc cũng có thể là các câu hỏi thảo luận, các ý kiến của HS… mà thông qua đó, GV có thể tổng hợp một cách nhanh nhất những ý kiến trả lời của các em.

Thời điểm sử dụng phiếu rất linh hoạt, GV có thể cho HS làm ở nhà hay làm tại lớp. Cấu trúc phiếu học tập Thƣờng gồm các phần sau: - Tiêu đề: PHT số… bài… thời gian…. Hoạt động (cá nhân/nhóm) - Mục tiêu:…… - Phần thông tin, hƣớng dẫn, yêu cầu HS thực hiện: là phần cung cấp thông tin ban đầu (hay nguồn thông tin), các chỉ dẫn của GV về cách thức hoạt động, các thao tác, hoạt động HS cần thực hiện. VD 1: Đọc thông tin mục… SGK trang… Hoàn thành sơ đồ phản ứng sau: VD 2: Sử dụng những kiến thức đã học trong bài… Hãy tìm mối liên hệ giữa các chất trong sơ đồ phản ứng.

- Phần đáp án: Phần này có thể đƣợc GV thông báo bằng lời hoặc chiếu lên màn hình. Phân loại phiếu học tập 1. Căn cứ vào mục đích lý luận dạy học - PHT dùng để hình thành kiến thức mới - PHT dùng để củng cố, hoàn thiện, hệ thống hoá kiến thức - PHT dùng để luyện tập mờ rộng và nâng cao 1.2 Căn cứ vào mục đích và cách thức sử dụng - PHT chỉ có các bài tập, câu hỏi… không có khoảng trống. Loại này nhằm cung cấp yêu cầu của GV với HS.

- PHT có các bài tập, câu hỏi… kèm theo khoảng trống để HS điền câu trả lời. - PHT in sẵn dàn ý của bài học có các khoảng trống để HS điền vào. Loại này thƣờngdùng trong các giờ dạy bằng giáo án điện tử, còn gọi là “phiếu ghi bài”. Căn cứ vào hình thức tồn tại - PHT in trên giấy phát cho HS/nhóm HS, có thể ép plastic và dùng bút viết bảng trắng viết lên nhằm tái sử dụng cho các lớp khác, năm học khác.

- PHT viết trên bảng phụ hoặc các tờ giấy khổ lớn đƣợc GV chuẩn bị trƣớc tiết học. - PHT trên màn hình của các phƣơng tiện trình chiếu. Tác dụng của phiếu học tập PHT là một phƣơng tiện đơn giản, có hiệu quả cao để duy trì sự hƣng phấn tích cực của HS trong giờ học. PHT có tác dụng trong việc giảng dạy bằng giáo án điện tử vì qua các PHT mà HS có thể dễ dàng theo dõi, nắm bắt kịp bài giảng, nhất là đối với những bài có nhiều câu hỏi cần đƣợc giải quyết.

Sử dụng PHT góp phần đổi mới PPDH, chuyển hoạt động của GV từ trình bày, giảng giải, thuyết minh sang hoạt động hƣớng dẫn, chỉ đạo nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS. Thông qua PHT, HS có thể tự đánh giá kết quả các hoạt động trong giờ học của chính bản thân và GV có thể đánh giá đƣợc một cách khách quan, thƣờng xuyên quá trình học tập, trình độ của hầu hết các HS trong lớp. Từ đó có những điều chỉnh kịp thời cho phù hợp với đối tƣợng và tăng hiệu quả dạy học. PHT là một phƣơng tiện để tổ chức hoạt động học tập độc lập của HS nhằm lĩnh hội, củng cố kiến thức.

Thông qua hoạt động giải quyết vấn đề đặt ra trong PHT, ở HS đã hình thành những năng lực và phẩm chất cần thiết trong học tập và cuộc sống nhƣ: khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề; góp phần hình thành khả năng tự học, phẩm chất tƣ duy mềm dẻo, linh hoạt trƣớc những tình huống, yêu cầu khác nhau; thói quen tự làm việc và hợp tác tích cực trong nhóm để đạt đƣợc hiệu quả cao trong học tập, cuộc sống. 3 PHT thể hiện sự sáng tạo, cũng nhƣ tài năng thiết kế các hoạt động của GV khi lên lớp. Để thực hiện đƣợc điều này, đòi hỏi GV phải biết vận dụng, kết hợp khéo léo tất cả các PTDH thích hợp cùng các PPDH linh hoạt nhằm khai thác triệt để ƣu điểm của PHT. Yêu cầu sư phạm 1.

Nội dung - Bám sát mục tiêu bài học, không xa rời nội dung chính của bài. - Nội dung trên phiếu phải đảm bảo tính chính xác, khoa học, phù hợp với trình độ nhận thức của HS. - Nên phân chia ra từ dễ đến khó để HS trong lớp với khả năng học khác nhau đều có thể tham gia vào hoạt động. Hình thức - Hình thức trình bày trên PHT phải rõ ràng, dễ đọc, hấp dẫn: cỡ chữ đủ lớn, có thể sửdụng sơ đồ, hình ảnh, bảng số liệu để kích thích hứng thú học tập cho HS.

- Thiết kế PHT kết hợp kênh chữ và kênh hình, mã QR-code để HS có thể tƣơng tác bằng điện thoại, xem video - Số lƣợng PHT trong một tiết học vừa phải, không nhiều gây tốn thời gian và không cần thiết nhƣng cũng không nên quá ít. - Yêu cầu mà GV đƣa ra cần phù hợp với thời gian thực hiện. Thực trạng của việc thiết kế và sử dụng PHT trong dạy học môn Hóa học ở một số trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Vinh 1. Mục đích điều tra, khảo sát Khi tiến hành điều tra, khảo sát ý kiến của các GV đang giảng dạy môn Hóa học ở các trƣờng trung học phổ thông (THPT) trên địa bàn thành phố Vinh bằng công cụ Google form , chúng tôi đặt ra những mục tiêu chính sau đây: - Tìm hiểu tình hình sử dụng PHT trong dạy học môn Hóa học: tác dụng, mức độ sử dụng, hình thức, kinh nghiệm sử dụng, phần mềm thiết kế.

- Tìm hiểu những khó khăn trong việc thiết kế và sử dụng PHT. - Tìm ra các biện pháp nâng cao chất lƣợng thiết kế và sử dụng PHT. Kết quả Sau khi tiến hành khảo sát và xử lý số liệu, chúng tôi thu đƣợc kết quả nhƣ sau: - Số GV tham gia khảo sát: 32 - Số trƣờng tham gia khảo sát: 6 trƣờng ở TP Vinh gồm: THPT Huỳnh Thúc Kháng, THPT Chuyên Phan Bội Châu, THPT Hà Huy Tập, THPT Lê Viết Thuật, THPT Nguyễn Trƣờng Tộ, THPT Herman. 4 Các tiêu chí Tỉ lệ STT SL % Thầy/ cô đánh giá nhƣ thế nào về mức độ cần thiết của 1 việc sử dụng PHT trong giảng dạy hóa học?

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ