Tổng quan nghiên cứu
Theo báo cáo của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), năm 2018 ngành du lịch toàn cầu đã đạt mốc 1,4 tỷ lượt khách quốc tế, đóng góp trực tiếp hơn 2.300 tỷ USD (tương đương 3,1% GDP thế giới) và tạo ra xấp xỉ 109 triệu việc làm. Tại Việt Nam, ngành du lịch ghi nhận sự bùng nổ mạnh mẽ khi đón trên 15 triệu lượt khách quốc tế và khoảng 80 triệu lượt khách nội địa trong năm 2018, đóng góp trực tiếp tới 8% GDP quốc gia theo số liệu của Ngân hàng Thế giới năm 2019. Trong bối cảnh đó, huyện Sa Pa thuộc tỉnh Lào Cai – nơi du lịch chiếm 11,5% GRDP toàn tỉnh giai đoạn 2010-2015 và hướng tới mục tiêu 20% vào năm 2020, 30% vào năm 2030 – đã trở thành Khu du lịch Quốc gia theo Quyết định số 1927/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Vấn đề cốt lõi đặt ra là sự chuyển dịch sinh kế từ nông nghiệp truyền thống sang dịch vụ du lịch của đồng bào thiểu số tại địa phương đang đối mặt với nhiều bất ổn về tính bền vững. Xã Tả Phìn được xác định là 1 trong 4 phân khu du lịch chính theo Quy hoạch tổng thể phát triển Khu du lịch quốc gia Sa Pa đến năm 2030 (Quyết định số 1845/QĐ-TTg), đồng thời là mô hình điểm về du lịch cộng đồng gắn với văn hóa dân tộc Dao Đỏ và H’Mông giai đoạn 2015-2020.
Mục tiêu nghiên cứu trọng tâm của luận văn là phân tích thực trạng các nguồn vốn sinh kế, làm rõ các chiến lược kinh doanh dịch vụ và đánh giá kết quả kinh tế - xã hội - môi trường của cộng đồng bản địa. Nghiên cứu thực hiện trong khung thời gian từ năm 2015 đến năm 2019 với định hướng chiến lược đến năm 2030. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc lượng hóa chỉ số phát triển sinh kế bền vững, hỗ trợ Sa Pa hiện thực hóa chỉ tiêu đón 5,2 triệu lượt khách, đạt doanh thu trên 11.000 tỷ đồng và tạo hơn 13.000 việc làm vào năm 2030.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn kết hợp hai nền tảng lý thuyết chủ đạo là Khung sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods Framework - SLF) do Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) xây dựng và Lý thuyết Trao đổi Xã hội (Social Exchange Theory - SET). Khung sinh kế DFID đóng vai trò mô hình trung tâm nhằm xem xét sự tương tác giữa 5 nguồn vốn cơ bản: Vốn con người (Human capital), Vốn tự nhiên (Natural capital), Vốn vật chất (Physical capital), Vốn tài chính (Financial capital) và Vốn xã hội (Social capital) dưới tác động của bối cảnh dễ bị tổn thương cùng thể chế, chính sách địa phương.
Bên cạnh đó, Lý thuyết Trao đổi Xã hội giúp luận giải nhận thức và thái độ ứng xử của cư dân bản địa khi chấp nhận đánh đổi tài nguyên văn hóa, môi trường để lấy lợi ích kinh tế từ du khách. Nghiên cứu chuẩn hóa 5 khái niệm chuyên ngành nền tảng gồm:
- Sinh kế (Livelihood): Tập hợp các khả năng, tài sản và hoạt động cần thiết để duy trì cuộc sống.
- Sinh kế du lịch (Tourism Livelihood): Các phương thức tạo thu nhập và việc làm dựa trên việc cung cấp sản phẩm, dịch vụ du lịch.
- Tính bền vững của sinh kế: Khả năng chống chịu, phục hồi sau các cú sốc và duy trì năng lực tài sản cho thế hệ tương lai.
- Nguồn vốn sinh kế: Tổng hòa các nguồn lực nội sinh và ngoại sinh mà hộ gia đình có thể huy động.
- Chiến lược sinh kế: Chuỗi quyết định và hoạt động thực hành nhằm đạt được các mục tiêu an sinh.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập bài bản. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Cục Thống kê tỉnh Lào Cai, Chi cục Thống kê huyện Sa Pa, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai cùng 36 biểu mẫu thống kê phát triển kinh tế - xã hội xã Tả Phìn. Dữ liệu sơ cấp được thu thập qua khảo sát bảng hỏi điều tra 120 hộ gia đình trực tiếp thực hành sinh kế du lịch (chiếm khoảng 68% tổng số hộ làm du lịch tại xã), kết hợp 25 cuộc phỏng vấn sâu cá nhân (cán bộ xã, già làng, trưởng bản, giám đốc hợp tác xã) và 4 cuộc thảo luận nhóm tập trung (FGD).
Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên kết hợp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cho cả 2 cộng đồng dân tộc chính là người Dao Đỏ (chiếm khoảng 54% mẫu khảo sát) và người H’Mông (chiếm khoảng 46% mẫu khảo sát), phân bổ đều theo 4 nhóm dịch vụ: Lưu trú homestay, Dịch vụ tắm thuốc thảo dược, Nghề dệt thêu thổ cẩm, và Cung ứng nông đặc sản bản địa. Luận văn lựa chọn phương pháp phân tích định lượng kết hợp định tính vì phương pháp này cho phép vừa lượng hóa chính xác mức độ tích lũy tài chính, thang đo Likert 5 mức độ về tính bền vững nguồn vốn, vừa đào sâu được các giá trị văn hóa bản địa vô hình. Toàn bộ quá trình điền dã khảo sát thực địa được triển khai từ tháng 6/2018 đến tháng 3/2019.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Phân tích định lượng từ 120 phiếu khảo sát và dữ liệu thực địa tại xã Tả Phìn cho thấy 4 phát hiện quan trọng:
Thứ nhất, sinh kế du lịch tạo ra bước đột phá về thu nhập hộ gia đình nhưng mức độ hưởng lợi không đồng đều. Thu nhập bình quân của hộ tham gia hoạt động du lịch đạt từ 75 triệu đến 135 triệu đồng/năm, cao gấp 2,4 đến 3,1 lần so với các hộ thuần nông nghiệp (chỉ đạt khoảng 28 triệu đến 35 triệu đồng/năm). Tỷ lệ hộ tích lũy tài chính đạt 64,2%, với mức thặng dư tiết kiệm trung bình hàng năm tăng từ mức dưới 10 triệu đồng lên khoảng 38,5 triệu đồng/hộ.
Thứ hai, có sự chênh lệch rõ rệt trong thứ hạng bền vững của 5 nguồn vốn sinh kế. Vốn tự nhiên và vốn xã hội đạt điểm số bền vững cao nhất, lần lượt là 4,15/5,00 và 3,92/5,00 điểm nhờ vào cảnh quan khí hậu cận nhiệt đới núi cao và mạng lưới họ hàng tương trợ gắn kết. Ngược lại, vốn con người chỉ đạt 2,45/5,00 điểm (khi có tới 78,3% lao động du lịch chưa qua đào tạo chuyên môn và chỉ 14,2% giao tiếp được ngoại ngữ cơ bản) và vốn vật chất đạt 2,80/5,00 điểm (với chỉ 36,7% cơ sở homestay đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn nhà tiêu tự hoại và hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt đạt chuẩn).
Thứ ba, cơ cấu chiến lược sinh kế du lịch có sự phân hóa theo giới và tộc người. Khoảng 85% phụ nữ người Dao Đỏ và H’Mông tham gia vào hoạt động thêu dệt và bán hàng thổ cẩm dạo, trong khi 92% dịch vụ tắm lá thuốc truyền thống do các hộ người Dao Đỏ làm chủ. Mô hình kinh doanh homestay phát triển nhanh với 28 cơ sở đăng ký, tuy nhiên tỷ lệ lấp đầy phòng bình quân chỉ đạt khoảng 32% vào mùa thấp điểm và tăng vọt lên 90% vào các dịp lễ hội cuối tuần.
Thứ tư, nhận thức về tác động văn hóa - môi trường có sự mâu thuẫn nội tại. Có 82,5% số hộ khẳng định du lịch thúc đẩy việc phục dựng các nghi lễ truyền thống (như lễ Cấp sắc của người Dao, hội Gầu Tào của người H’Mông), nhưng cũng có 31,6% hộ lo ngại về tình trạng thương mại hóa bản sắc, ô nhiễm rác thải nhựa phát sinh từ 45.000 lượt khách tham quan mỗi năm tại tuyến hang động Tả Phìn.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân cốt lõi khiến nguồn vốn con người và vốn vật chất bị xếp hạng thấp xuất phát từ xuất phát điểm kinh tế nông thôn miền núi còn nhiều khó khăn, thiếu các chương trình đào tạo kỹ năng nghề du lịch dài hạn được thiết kế riêng bằng ngôn ngữ bản địa. Sự phụ thuộc lớn vào vốn vay ngân hàng (với 61,7% hộ tiếp cận vốn qua Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - Agribank và Ngân hàng Chính sách Xã hội) nhưng hạn mức vay tín chấp thấp (thường dưới 50 triệu đồng) khiến các hộ khó nâng cấp cơ sở vật chất đồng bộ.
Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu thực nghiệm tại Sa Pa và vùng núi Tây Bắc của một nghiên cứu gần đây, khi khẳng định du lịch cộng đồng giúp cải thiện nhanh chóng vốn tài chính nhưng lại đặt ra thách thức gay gắt về năng lực quản trị và bảo tồn hệ sinh thái. Trong các chương nội dung, luận văn đã trực quan hóa dữ liệu qua biểu đồ mạng nhện (Radar Chart) thể hiện sự mất cân đối ngũ giác nguồn vốn sinh kế, kết hợp Bảng ma trận xếp hạng tính bền vững (Bảng số 33 trong công trình) để so sánh trực quan hiệu quả giữa các thôn bản tại Tả Phìn.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả đánh giá thực trạng, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược khả thi nhằm nâng cao tính bền vững cho sinh kế du lịch tại Tả Phìn:
-
Đào tạo chuẩn hóa nguồn vốn con người bản địa: Tổ chức các khóa đào tạo thực hành tại chỗ về nghiệp vụ buồng phòng, vệ sinh an toàn thực phẩm và kỹ năng ngoại ngữ giao tiếp tiếng Anh, tiếng Pháp cơ bản. Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ lệ lao động du lịch qua đào tạo từ 21,7% hiện nay lên 70% vào năm 2023. Chủ thể chịu trách nhiệm thực hiện là Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai phối hợp cùng Ủy ban nhân dân huyện Sa Pa và các trường cao đẳng nghề du lịch.
-
Nâng cấp nguồn vốn vật chất gắn với hạ tầng sinh thái: Triển khai gói hỗ trợ kỹ thuật và vốn đầu tư nhằm xây dựng hệ thống xử lý rác thải, bể lắng nước thải sinh hoạt tại 100% cơ sở homestay và khu vực tắm lá thuốc tập trung. Phấn đấu đến cuối năm 2024 có ít nhất 80% hộ kinh doanh dịch vụ đạt chứng nhận cơ sở lưu trú du lịch xanh. Chủ thể triển khai là Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Sa Pa kết hợp cùng Ủy ban nhân dân xã Tả Phìn.
-
Mở rộng chuỗi giá trị và thúc đẩy liên kết doanh nghiệp cộng đồng: Củng cố mô hình hợp tác xã nông sản thảo dược tiêu biểu như Công ty Cổ phần Kinh doanh các sản phẩm bản địa Sa Pa (SAPANAPRO), liên kết hộ nông dân trồng cây thuốc bản địa với các doanh nghiệp lữ hành lớn tại Hà Nội và Lào Cai. Target metric là tăng tỷ trọng doanh thu từ chuỗi liên kết lên 45% tổng thu nhập sinh kế của xã vào năm 2025. Đơn vị chủ trì là Hợp tác xã SAPANAPRO, Hội Nông dân và Hội Phụ nữ xã Tả Phìn.
-
Thiết lập quỹ tài chính vi mô và đa dạng hóa gói tín dụng ưu đãi: Ngân hàng Chính sách Xã hội và Ngân hàng Agribank chi nhánh Sa Pa cần nâng hạn mức vay vốn tín chấp phát triển du lịch cộng đồng từ mức 50 triệu đồng lên 150 triệu đồng/hộ, thời hạn vay từ 3 đến 5 năm với lãi suất ưu đãi giảm 1,5%/năm. Timeline thực hiện giải ngân bắt đầu từ quý 2/2020 đến năm 2025 nhằm hỗ trợ ít nhất 75% số hộ có nhu cầu mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình nghiên cứu mang lại giá trị tham khảo khoa học và ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:
-
Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách du lịch: Điển hình là Ủy ban nhân dân huyện Sa Pa, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai. Luận văn cung cấp bộ tiêu chí đánh giá sinh kế thực chứng để phục vụ công tác quy hoạch chi tiết phân khu du lịch Tả Phìn thuộc Khu du lịch Quốc gia Sa Pa đến năm 2030.
-
Các nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học: Những người thuộc các chuyên ngành Khoa học bền vững, Quản lý tài nguyên môi trường, Du lịch học và Nhân học phát triển. Luận văn là tài liệu tham khảo mẫu mực về quy trình vận dụng Khung sinh kế bền vững DFID vào nghiên cứu thực địa vùng đồng bào thiểu số.
-
Các tổ chức phi chính phủ (NGO) và ban quản lý dự án phát triển: Các tổ chức đang tài trợ dự án xóa đói giảm nghèo, bảo tồn tri thức bản địa và phát triển du lịch sinh thái có thể sử dụng các chỉ số vốn xã hội, vốn tự nhiên làm căn cứ thiết kế dự án can thiệp cộng đồng.
-
Hợp tác xã, doanh nghiệp lữ hành và các hộ kinh doanh du lịch bản địa: Giúp các chủ homestay, cơ sở dược liệu nắm bắt quy chuẩn dịch vụ, nhìn nhận rõ các rủi ro vận hành để tái cơ cấu sản phẩm du lịch theo hướng bền vững, thích ứng dài hạn.
Câu hỏi thường gặp
-
Khung sinh kế bền vững DFID được vận dụng cụ thể như thế nào trong luận văn?
Khung DFID được tác giả cụ thể hóa thông qua việc định lượng 5 nguồn vốn (Tự nhiên, Con người, Vật chất, Tài chính, Xã hội) của 120 hộ làm du lịch tại Tả Phìn bằng thang đo 5 cấp độ. Phương pháp này giúp nhận diện chính xác các điểm nghẽn hạ tầng và kỹ năng của cư dân địa phương.
-
Nguồn vốn nào đóng vai trò là động lực chính và nguồn vốn nào gây trở ngại lớn nhất cho sinh kế Tả Phìn?
Vốn tự nhiên (cảnh quan ruộng bậc thang, khí hậu trong lành, nguồn dược liệu) và vốn xã hội (tính cố kết cộng đồng người Dao Đỏ) là động lực thúc đẩy lớn nhất với điểm số trên 3,9/5,0. Ngược lại, vốn con người (thiếu kỹ năng chuyên môn) là rào cản lớn nhất với điểm đánh giá chỉ 2,45/5,0.
-
Dịch vụ tắm lá thuốc của người Dao Đỏ đóng góp ra sao vào cơ cấu kinh tế địa phương?
Dịch vụ tắm thuốc thảo dược chiếm khoảng 38% tổng doanh thu du lịch toàn xã, đem lại nguồn thu nhập ổn định từ 8 đến 15 triệu đồng/tháng cho mỗi hộ kinh doanh trực tiếp, đồng thời bao tiêu sản phẩm cây thuốc tươi cho hơn 60 hộ gia đình trồng trọt vệ tinh trong khu vực.
-
Những rủi ro lớn nhất đối với sinh kế du lịch của đồng bào thiểu số tại Sa Pa là gì?
Hai rủi ro nghiêm trọng nhất được luận văn chỉ ra gồm: Biến động mang tính mùa vụ của lượng khách (mùa đông và các ngày trong tuần sụt giảm tới 68% công suất) và nguy cơ mai một bản sắc văn hóa truyền thống khi các sản phẩm thổ cẩm công nghiệp giá rẻ xâm lấn thị trường bản địa.
-
Luận văn đề xuất mô hình kinh tế nào để tối ưu hóa chuỗi giá trị bản địa?
Tác giả đề xuất mở rộng mô hình doanh nghiệp cộng đồng theo cơ chế liên kết ba bên: Hộ nông dân bản địa (cung cấp lá thuốc, thổ cẩm) – Doanh nghiệp xã hội như SAPANAPRO (chế biến, chuẩn hóa chất lượng) – Doanh nghiệp lữ hành chuyên nghiệp (bao tiêu và đưa khách trải nghiệm).
Kết luận
- Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về tính bền vững của sinh kế du lịch tại xã Tả Phìn, 1 trong 4 phân khu trung tâm của Khu du lịch Quốc gia Sa Pa.
- Công trình chỉ ra bức tranh thực tế về sự mất cân bằng giữa tăng trưởng tài chính ngắn hạn (tăng thu nhập 2,4 - 3,1 lần) và sự thiếu hụt trầm trọng về vốn con người (78,3% lao động chưa qua đào tạo) cùng vốn vật chất (63,3% homestay chưa đạt chuẩn môi trường).
- Khẳng định mô hình liên kết chuỗi giá trị dược liệu và du lịch văn hóa Dao Đỏ là hướng đi chiến lược để duy trì sinh kế bền vững trong giai đoạn 2020-2030.
- Lộ trình triển khai các giải pháp đào tạo nghề, nâng cấp hạ tầng xử lý nước thải và giải ngân vốn vay ưu đãi cần hoàn tất giai đoạn trọng tâm từ năm 2020 đến năm 2025.
- Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp hãy khai thác ngay nguồn cứ liệu thực chứng phong phú từ luận văn này để xây dựng các chính sách phát triển du lịch cộng đồng hiệu quả, bền vững cho vùng Tây Bắc.