phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỊCH BẢN VÀ KỊCH BẢN TRUYỀN HÌNH 1.1 Kịch bản, kịch bản văn học, kịch bản sân khấu, kịch bản điện ảnh 1.2 Kịch bản truyền hình 1.3 Tính sáng tạo trong kịch bản dành cho chương trình truyền hình trực tiếp và cầu truyền hình ở Đài THVN. THỰC TRẠNG VIỆC SÁNG TẠO KỊCH BẢN TRONG CÁC CHƢƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH TRỰC TIẾP VÀ CẦU TRUYỀN HÌNH Ở ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM 2. VTV1, VTV3, VTV6 trong tổng quan các kênh khác của Đài Truyền hình Việt Nam.2 Quá trình chuyển hóa từ ngữ từ ngôn ngữ văn học của kịch bản truyền hình sang ngôn ngữ báo hình.
MỘT SỐ KINH NGHIỆM RÚT RA VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG SÁNG TẠO KỊCH BẢN TRUYỀN HÌNH 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỊCH BẢN VÀ KỊCH BẢN TRUYỀN HÌNH 1. Kịch bản, kịch bản văn học, kịch bản sân khấu, kịch bản điện ảnh 1. Kịch bản "Kịch bản bắt nguồn từ tiếng La tinh senario, có nghĩa là văn bản kịch hoặc văn bản viết có tính kịch dùng để chỉ một bộ phận cấu thành rất quan trọng của tác phẩm văn học, điện ảnh hay truyền hình". Theo từ điển tiếng Việt do Giáo sư Hoàng Phê chủ biên, Nxb Khoa học xã hội định nghĩa: “Kịch bản- đó là vở kịch ở dạng văn bản”.
Kịch bản là một vở kịch, một bộ phim, một chương trình được phác thảo, mô hình hoá, trên văn bản với tư cách là một đề cương, hay chi tiết đến từng chi tiết nhỏ (tuỳ theo yêu cầu của mỗi loại hình), là cơ sở chính cho “tập thể tác giả” làm nên, hoàn thiện tác phẩm của mình. Theo nhóm tác giả G.Iuropxki thì "Kịch bản - đó là việc ghi chép giải pháp tạo hình và âm thanh về một thông tin màn ảnh". TS Dương Xuân Sơn cũng đã viết rằng: " Kịch bản là một vở kịch , một bộ phim, một chương trình được phác thảo, mô hình hóa trên văn bản với tư cách là một đề cương hay chi tiết đến từng chi tiết nhỏ, tùy theo yêu cầu của mỗi loại hình), là cơ sở chính cho "tập thể tác giả" làm nên, hoàn thiện tác phẩm của mình" ". Kịch bản văn học Khái niệm kịch bản đã tồn tại từ thời xa xưa.
Người ta gọi kịch bản là một bản đề cương, một bản ghi tóm tắt các tác phẩm nghệ thuật, đó là sự mô tả vắn tắt cảnh diễn và trật tự các nhân vật phía sau sân khấu để hướng dẫn cho các diễn viên biết thời gian họ bước lên sân khấu và đi từ phía nào lên sân khấu, đồng thời người đó còn theo dỡi việc kịp thời đưa vào vận hành đủ loại thủ pháp sân khấu. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com "Kịch thường được hiểu theo nghĩa là một loại hình nghệ thuật sân khấu, vừa có nghĩa là một kịch bản văn học". Như vậy với định nghĩa này có thể hiểu nguồn gốc của kịch bản là kịch bản văn học. Người viết kịch bản văn học thai nghén và sáng tạo ra kịch bản.
Nhưng kịch bản văn học đó muốn phát triển rộng rãi, đến được với số đông công chúng thì sẽ có một đội ngũ như diễn viên, nhạc sỹ, họa sỹ. sẽ tái hiện sinh động trên sàn diễn Những tìm tòi về một sự ghi chép hoàn hảo hơn của kịch bản phim tài liệu thì cho đến nay vẫn được tiếp tục. Vì kịch bản là tác phẩm văn học dành cho màn ảnh, cho nên hình thức bên ngoài của nó phải hết sức đa dạng, như chính của thế giới thông tin tài liệu. Mỗi chủ đề, mỗi tư tưởng, mỗi tài liệu đều đòi hỏi phải có 1 hình thức thể hiện trên màn ảnh.
Do đó hình thức viết kịch bản đòi hỏi phải phù hợp: cô đọng hay là mở rộng, mang tính cảm xúc, cởi mở hay là kìm nén, chính xác hay là tự do. Có một số tác phẩm văn học không có khả năng tái hiện trên sân khấu mà chỉ ở dạng văn bản giấy. Thực ra việc thưởng thức tác phẩm văn học bằng văn bản cũng là một cách tiếp cận vì kịch bản văn học đã có đầy đủ những đặc trưng riêng về ngôn ngữ. Kịch bản có thể coi là một khung giới hạn cho nội dung tác phẩm định đề cập.
Nó vạch ra đường đi nước bước để xây dựng và hoàn thiện những sản phẩm tinh thần phục vụ cho công chúng. Để viết được kịch bản, tác giả phải hiểu rõ những đặc trưng sau: - Xung đột kịch: nhà phê bình Bêlinxki đã viết: "Tính kịch được bộc lộ bằng sự va chạm, xô đẩy giữa những tư tưởng có khuynh hướng chống đối và thù địch nhau". Tính kịch bộc lộ qua những đột mang sắc thái thẩm mĩ khác nhau. Tác phẩm văn học phải có tính kịch, muốn có tính kịch phải tạo ra xung đột kịch.
Các xung đột kịch chi phối cốt truyện, cấu trúc tác phẩm. Nét chủ đạo của kịch là kịch tính. Kịch tính được tạo ra do mâu thuẫn và xung đột một khi đã xảy ra liền liên tục phát triển, không gián đoạn theo chiều hướng mỗi lúc một căng thẳng cho tới tình thế đòi hỏi phải giải quyết bằng một kết cục 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Thiếu xung đột thì tác phẩm sẽ mất đi đặc trưng cơ bản của thể loại và không thể là một kịch bản văn học.
Xét theo ý nghĩa của xung đột có thể phân ra ba loại kịch: bi kịch, hài kịch, chính kịch. +) Bi kịch là loại vở diễn phản ánh xung đột giữa các nhân vật tươi sáng, cao thượng, có phẩm chất đẹp, có tinh thần hướng tới cái tiến bộ với những thế lực đen tối, hiểm ác. +) Hài kịch là vở diễn phản ánh xung đột ở các nhân vật ở mức độ không quá trầm trọng, phần lớn là từ các tình huống hiểu nhầm hoặc các nhân vật cố tình chọc ghẹo nhau tạo nên tiếng cười vui vẻ, thoải mái. +) Chính kịch dùng để chỉ vở diễn trung gian giữa bi kịch và hài kịch trong đó vẫn phản ánh những mâu thuẫn, xung đột trong cuộc sống hàng ngày nhằm hướng tới một sự khẳng định hoặc phủ định nào đó.
- Hành động kịch: quá trình diễn biến của xung đột kịch được cụ thể hóa bằng hành động kịch. Hành động kịch là yếu tố quan trọng hàng đầu của kịch phẩm. Không phải ngẫu nhiên khái niệm kịch drama trong tiếng Hy Lạp cũng có nghĩa là hành động. Đó là sự tổ chức các tình tiết sự kiện, biến cố trong cốt truyện theo một diễn biến logic, chặt chẽ, nhất quán, chi phối bởi một qui luật nhất định mà qua đó công chúng có thể tiếp nhận được mâu thuẫn, xung đột trong đời sống mà tác giả muốn truyền tải.
Hành động kịch được thể hiện bằng các nhân vật và mối quan hệ giữa hành động kịch và nhân vật kịch là trục chính để xác định tính cách nhân vật. Nhân vật kịch luôn khẳng định bản chất của mình bằng hành động. Và những xung đột giằng xé dữ dội của nhân vật tạo ra những hành động kịch. Hành động kịch được thực hiện bởi các nhân vật kịch.
Trong kịch, các nhân vật tự xây dựng nên tính cách riêng biệt của mình qua ngôn ngữ mà nó thể hiện. - Ngôn ngữ kịch: có 3 loại +) Ngôn ngữ đối thoại: tức là các nhân vật đối đáp với nhau. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com +) Ngôn ngữ độc thoại: tức là nhân vật tự đối thoại với chính mình tự bộc lộ tâm tư, tình cảm. +) Ngôn ngữ bằng lời thoại: ngôn ngữ nhân vật nói riêng với khán giả.
Ngôn ngữ kịch là ngôn ngữ khắc họa tính cách, ngôn ngữ biểu hiện đặc điểm phẩm chất của nhân vật. Gorki đã viết: "Các nhân vật kịch hình thành là do lời lẽ của họ, và tuyệt đối chỉ do những lời lẽ ấy mà thôi". Ngôn ngữ mang tính hành động, tức là ngôn ngữ mang tính tranh luận, tác động trực tiếp và mang tính mâu thuẫn, xung đột tăng tiến tạo kịch tính với những sắc thái tấn công, phản công, thăm dò lảng tránh, chất vấn, chối cãi, đe dọa, coi thường. Văn học với vốn từ vựng phong phú, giàu hình tượng, có khả năng phản ánh những cái lắt léo, những điều thầm kín nhất của đời sống xã hội.
Những hình ảnh tưởng tượng trên những trang viết lần lượt hiện lên trong đầu ta, rõ nét hay mờ nhạt còn tùy thuộc vào trí tưởng tượng, vào trình đội kiến thức và sự từng trải của mỗi người. Kịch bản sân khấu Tuy nhiên có thể khẳng định việc gắn kết giữa kịch bản văn học và bộ môn nghệ thuật sân khấu luôn đem lại thành công bởi vì môn nghệ thuật sân khấu giúp cho kịch bản văn học thăng hoa và ngược lại. Người xem thay vì chỉ đọc văn bản thì họ được chứng kiến và hòa cùng cảm xúc với nhân vật. Điều đầu tiên là phải có một kịch bản văn học, đạo diễn sân khấu dùng thủ pháp sân khấu để "chuyển ngữ" cho tác phẩm văn học thành tác phẩm sân khấu.
Quá trình "chuyển ngữ" đó chính là sáng tạo. Điển hình là vở kịch Hamlet của nhà soạn nhạc vĩ đại người Anh William Shakespeare. Cốt truyện của tác phẩm có nguồn gốc từ thể loại Saga thời đại Trung cổ. Nhưng sau khi tác phẩm văn học được chuyển thể trên nhiều sân khấu của nước Anh thì khán giả được biết đến sự bát nháo của xã hội nhà tù, "phải hàng vạn người mới nhặt ra được một kẻ lương thiện, vẫn lóe lên những hạt vàng của chủ nghĩa nhân văn với nhân vật Hamlet không chỉ quan tâm đến nghĩa vụ trả thù và ngai vàng mà quan tâm hơn đến phẩm 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giá, lẽ sống và lối sống con người.
Hamlet dù là kịch bản văn học hay kịch bản sân khấu vẫn xứng đáng là một trong những bi kịch nổi tiếng nhất của lịch sử sân khấu thế giới. Một thành công nữa trong việc chuyển thể từ tác phẩm văn học sang loại hình sân khấu chính là các vở kịch của nhà viết kịch Tây Ban Nha Jose Echegaray Eizaguirre. Rất nhiều vở kịch của ông sau này được chuyển thể thành tác phẩm sân khấu. Vở kịch nổi tiếng đầu tiên của ông là "Điên khùng hay thần thánh" viết năm 1874 được dịch sang tiếng Anh và đem lại tiếng tăm cho ông.
Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là "Galeoto vĩ đại" viết năm 1881, viết về sức tàn phá của những tin đồn thổi khiến những người vô tội trở thành nạn nhân. Ông được xem là mắt xích kết nối kịch cổ điển và hiện đại Tây Ban Nha.