Nghiên cứu sàng lọc các vị thuốc và bài thuốc hỗ trợ điều trị viêm gan mạn do siêu vi B

Tài liệu nghiên cứu Luận văn sàng lọc một số vị thuốc bài thuốc nhằm điều chế thuốc điều trị viêm gan mạn do siêu vi b, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Viện Dược Liệu

Chuyên ngành

Dược Liệu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Báo cáo kết quả nghiên cứu

2008

156
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Một số thông tin chung về 10 cây thuốc - đối tượng nghiên cứu của đề tài

2.2. Cây Ban tròn (Hypericum patulum Thunb.)

2.3. Cam thảo dây (Abrus precatorius L.), Họ đậu (Fabaceae)

Tóm tắt

I. Sàng lọc vị thuốc và bài thuốc điều trị viêm gan mạn do siêu vi B

Nghiên cứu tập trung vào sàng lọc vị thuốcbài thuốc điều trị viêm gan mạn tính do siêu vi B. Các dịch chiết từ 10 cây thuốc và 2 bài thuốc được thử nghiệm trên mô hình gây tổn thương gan bằng CCl4. Kết quả cho thấy 7 vị thuốc và 2 bài thuốc có tác dụng bảo vệ gan đáng kể, giảm hoạt tính enzym GPT và hàm lượng bilirubin. Bài thuốc số 1bài thuốc số 2 được đánh giá cao với hiệu quả tương đương silymarin. Nghiên cứu này đã chọn ra 3 sản phẩm có tiềm năng nhất để tiếp tục nghiên cứu dược lý và độc tính.

1.1. Phương pháp sàng lọc và kết quả

Quá trình sàng lọc thuốc điều trị viêm gan được thực hiện trên chuột nhắt trắng. Các dịch chiết từ lá ban tròn, lá muồng trâu, và bài thuốc số 2 cho thấy hiệu quả cao trong việc giảm enzym GPT và bilirubin. Flavonoid ban tròn được chọn làm sản phẩm chính do tác dụng bảo vệ gan, ức chế xơ gan, và chống oxy hóa. Nghiên cứu cũng xác định hàm lượng flavonoid toàn phần trong lá ban tròn đạt trung bình 5,92%, với các thành phần chính là astilbin và quercitrin.

1.2. Đánh giá độc tính

Độc tính cấp và bán trường diễn của flavonoid ban tròn được thử nghiệm trên thỏ và chuột. Kết quả cho thấy liều không gây chết (LD0) là 5000mg/kg, gấp 40 lần liều có tác dụng. Điều này chứng tỏ sản phẩm có độ an toàn cao. Nghiên cứu mô học gan và thận sau 30 ngày sử dụng không phát hiện tổn thương, khẳng định tính an toàn của chế phẩm.

II. Phương pháp điều trị viêm gan mạn do siêu vi B

Nghiên cứu đề xuất phương pháp điều trị viêm gan mạn do siêu vi B bằng các thuốc đông ythuốc nam. Các sản phẩm từ lá ban tròn và bài thuốc số 2 được chứng minh có tác dụng chống viêm, ức chế xơ gan, và lợi mật. Cao ban tròn (bột Hypatin) được bào chế dưới dạng viên nén bao phim, đáp ứng tiêu chuẩn DĐVN III. Quy trình chiết xuất flavonoid từ lá ban tròn quy mô pilot cũng được nghiên cứu, đạt hiệu suất chiết trung bình 5,69%.

2.1. Quy trình chiết xuất và bào chế

Quy trình chiết xuất flavonoid toàn phần từ lá ban tròn sử dụng dung môi nước và ethyl acetate. Nhiệt độ chiết được duy trì ở 90-95°C trong 1 giờ, lặp lại 3 lần. Cao lỏng được cô đặc và chiết bằng ethyl acetate, sau đó sấy ở 50°C. Quy trình này đạt hiệu suất chiết 85,43% so với khối lượng flavonoid có trong dược liệu.

2.2. Tiêu chuẩn hóa sản phẩm

Nghiên cứu đã xây dựng 3 tiêu chuẩn: tiêu chuẩn nguyên liệu lá ban tròn, tiêu chuẩn bán thành phẩm cao ban tròn, và tiêu chuẩn thuốc viên bao phim Hypatin. Các tiêu chuẩn này đảm bảo chất lượng và độ ổn định của sản phẩm, phù hợp với yêu cầu của DĐVN III.

III. Giá trị và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu đã đóng góp quan trọng vào việc phát triển thuốc điều trị viêm gan mạn do siêu vi B từ nguồn dược liệu tự nhiên. Cao ban tròn và các bài thuốc được nghiên cứu có tiềm năng lớn trong việc hỗ trợ điều trị viêm gan, giảm thiểu tác dụng phụ so với thuốc tân dược. Kết quả nghiên cứu cũng mở ra hướng đi mới trong việc khai thác và sử dụng các vị thuốc truyền thống.

3.1. Ứng dụng trong y học cổ truyền

Nghiên cứu khẳng định giá trị của thuốc đông ythuốc nam trong điều trị viêm gan. Các vị thuốc như lá ban tròn, lá muồng trâu, và bài thuốc số 2 được chứng minh có hiệu quả cao, phù hợp với kinh nghiệm dân gian và y học cổ truyền.

3.2. Triển vọng trong y học hiện đại

Sản phẩm Hypatin từ lá ban tròn là một bước tiến trong việc kết hợp y học cổ truyền và hiện đại. Nghiên cứu này cung cấp cơ sở khoa học cho việc phát triển các loại thuốc mới từ dược liệu tự nhiên, đáp ứng nhu cầu điều trị viêm gan mạn do siêu vi B.

01/03/2025
Luận văn sàng lọc một số vị thuốc bài thuốc nhằm điều chế thuốc điều trị viêm gan mạn do siêu vi b

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết của đề tài: Viêm gan siêu vi B (viêm gan B) là bệnh nhiễm trùng gan nặng do virút viêm gan B gây ra. Bệnh viêm gan B (VGB) nằm trong danh mục 10 bệnh dịch gây tử vong cao nhất trên thế giới. Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) hiện có khoảng 400 triệu người trên toàn cầu nhiễm virút viêm gan B, hơn nửa triệu người chết mỗi năm do ung thư gan nguyên phát thì có đến 80% là do VGB.

Viêm gan B mạn tính nếu không được điều trị có thể dẫn đến suy gan, xơ gan, ung thư gan và tử vong. Suy gan và ung thư gan do VGB mạn tính làm chết nhiều người tại châu Á, từ 350. Tại VN các số liệu điều tra về dịch tễ học cũng cho biết có khoảng 15% dân số, tương đương 12 triệu người đang bị nhiễm virút VGB, cao gấp 40 đến 50 lần số người nhiễm HIV. Theo Hội Ung thư toàn cầu, Việt Nam đang đứng thứ 2 về ung thư gan và 90% căn bệnh nguy hiểm này do viêm gan B gây ra, 20,5% mắc phải ở người lớn và tỷ lệ nam thường cao hơn 5 lần phụ nữ [simci.

Theo hướng dẫn mới của Hiệp hội Nghiên cứu bệnh gan Mỹ (AASLD) được công bố tại hội nghị APASL 2007 ở châu Á, mục tiêu cơ bản của điều trị VGB mạn là đạt được sự ức chế duy trì đối với sự sao chép của virút VGB và đẩy lùi bệnh gan. Mục tiêu tối hậu là ngăn chặn xơ gan, suy gan và ung thư gan. Thuốc uống điều trị VGB mạn tính có 4 loại đã được cơ quan Dược và Thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) cho sử dụng trong điều trị là Lamivudine, Adefovir, Entecavir và Telbivudine. Các thuốc tân dược thường có nhiều tác dụng phụ và giá thành đắt.

Vì vậy, các thuốc có nguồn gốc thảo mộc đang được khuyến khích nghiên cứu, đặc biệt là các vị thuốc Đông dược đã được dùng theo kinh nghiệm cổ truyền để chữa các bệnh về gan. Số thuốc thảo mộc đưa vào sử dụng chưa nhiều nhưng bước đầu cho thấy có triển vọng tốt trong hỗ trợ điều trị VGB mạn nói chung và VGB mạn hoạt động (VGMHĐ) nói riêng. Các thuốc thảo mộc thường có tác dụng bảo vệ tế bào gan, giảm viêm gan, phục hồi chức năng gan, ức chế xơ gan. Một số thuốc thảo mộc còn có tác dụng ức chế sự nhân 1 lên của virút VGB, tăng sản xuất kháng thể chống lại kháng nguyên HBsAg của virút VGB.

Khi dùng phối hợp với các thuốc tân dược, các thuốc thảo mộc có tác dụng rút ngắn thời gian điều trị và giảm liều điều trị của thuốc tân dược. Theo kinh nghiệm dân gian và kết quả nghiên cứu của một số công trình nghiên cứu khoa học (NCKH) gần đây cho thấy có nhiều cây thuốc được dùng điều trị viêm gan có tác dụng tốt, như: Diệp hạ châu, ngũ vị, dứa gai, cam thảo dây, hạ khô thảo nam, khúng khéng, muồng trâu, vọng cách, cốt khí, mã đề, dành dành, nọc sởi, ban tròn, trạch tả, nhó đông, cải trời, cà gai leo, cúc gai. Trong đó, mã đề, chi tử, hạ khô thảo nam đã được Bộ Y tế xếp vào Danh mục cây thuốc Nam điều trị VGB. Kế thừa và phát virút triển những kinh nghiệm sử dụng thảo dược để bào chế thuốc điều trị VGB mạn, chúng tôi đã được phép thực hiện đề tài: “Sàng lọc một số vị thuốc, bài thuốc nhằm điều chế thuốc điều trị viêm gan mạn do siêu vi B”.

Mục tiêu và nội dung nghiên cứu: • Đề tài nhằm 2 mục tiêu: 1. Sàng lọc một số vị thuốc, bài thuốc có tác dụng bảo vệ gan. Điều chế một loại thuốc điều trị viêm gan mạn do siêu vi B. • Nội dung nghiên cứu: 1.

Nghiên cứu sàng lọc tác dụng bảo vệ gan trên mô hình gây tổn thương gan bằng CCl4 các dịch chiết từ 2 bài thuốc và 10 cây thuốc. Chọn 5 sản phẩm có tác dụng tốt nhất. Nghiên cứu thành phần hóa học của 5 dịch chiết. Xác định hàm lượng các nhóm chất có tác dụng bảo vệ gan.

Chọn 3 sản phẩm có hàm lượng hoạt chất cao, nguyên liệu dễ khai thác hoặc dễ trồng để tiếp tục nghiên cứu tác dụng dược lý. So sánh các tác dụng lý sau đây của 3 sản phẩm chọn được: Tác dụng chống oxy hoá, ức chế xơ gan, giảm enzym GPT, GOT; tác dụng chống viêm mạn và tác dụng lợi mật. Chọn 1 sản phẩm có tác dụng tốt nhất để nghiên cứu độc tính: i. Thử độc tính cấp ii.

Độc tính bán mạn. Nghiên cứu quy trình chiết xuất sản phẩm quy mô pilot. Nghiên cứu dạng bào chế và quy trình sản xuất thuốc trị VGM do siêu vi B. Xây dựng tiêu chuẩn dược liệu, bán sản phẩm và thuốc mới.

3 I- TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số thông tin chung về 10 cây thuốc - đối tượng nghiên cứu của đề tài: • Cây Ban tròn (Hypericum patulum Thunb.): Cây ban tròn (họ Ban -Hyperaceae) mọc rất phổ biến ở vùng thượng du miền Bắc và miền Trung nước ta [24]. Nghiên cứu trước đây của chúng tôi (thuộc Đề tài KC10-07) cho thấy cao nước của lá ban tròn có tác dụng bảo vệ gan, giảm enzym GPT, giảm bilirubin trên mô hình gây viêm gan cấp bằng CCl4 [13]. Cao nước của lá ban tròn còn có tác dụng giảm hàm lượng colagen và malonyl dialdehyd (MDA) trong gan chuột bị gây viêm gan mạn bằng CCl4 [25, 26].

Vi phẫu lá ban tròn đã được nghiên cứu có những đặc điểm sau: - Gân lá: Gân phía trên hơi lõm, phía dưới lồi nhiều. Biểu bì trên là một hàng tế bào hình chữ nhật có kích thước lớn hơn tế bào biểu bì dưới. Mô dày nằm sát biểu bì, thường có 2- 3 lớp tế bào có thành rất dày. Mô mềm cấu tạo bởi các tế bào thành mỏng, hình đa giác, có kích thước nhỏ hơn tế bào mô dày.

Bó libe gỗ -lớn, hình gần như tròn, với phần libe rất phát triển ở phía dưới bó gỗ. Gỗ cấu tạo bởi các mạch gỗ xếp thành hàng có hình cung. -Phiến lá: Biểu bì trên là một hàng tế bào hình chữ nhật có kích thước lớn, xếp đều đặn, tế bào biểu bì phía dưới có kích thước nhỏ hơn. Mô dậu là một hàng tế bào hình chữ nhật dài xếp vuông góc với tế bào biểu bì trên.

Mô mềm khuyết là những tế bào có kích thước nhỏ, thành mỏng [26]. Bột lá Ban tròn có màu nâu sẫm, mùi thơm nhẹ, vị hơi chát. Soi dưới kính hiển vi thấy: Mảnh biểu bì phiến lá là những tế bào hình ngũ giác hoặc đa giác xếp đều đặn, màu vàng nhạt hoặc lục nhạt. Mảnh phiến lá có tế bào mô dậu hình chữ nhật hình que khá dài, xếp đều đặn thành một hàng.

Mảnh mạch xoắn có 3 đến 4 hàng xếp liền nhau với những tế bào xếp đều đặn, màu vàng tươi. Mảnh phiến lá màu lục xen vàng nhạt, mang tế bào lỗ khí hình tròn hoặc hạt đậu. Mảnh biểu bì của cuống lá có những tế bào màu lục hoặc vàng sẫm xếp thành những hàng dài [26]. Gần đây ở Ấn Độ đã nghiên cứu tác dụng của cao methanol từ lá ban tròn trên khả năng tái tạo tế bào và làm lành vết thương trên chuột.

Cao methanol bào chế dưới dạng thuốc mỡ nồng độ 5 và 10 % đều thể hiện tác dụng làm lành vết thương có ý nghĩa thống 4 kê so với nhóm chứng. Dịch chiết chloroform và dịch chiết methanol của lá và thân cây ban tròn có phổ kháng nấm khá rộng [58, 59]. Dịch chiết của lá cây ban tròn có tác dụng làm giảm có ý nghĩa thống kế thời gian ngủ do pentobarbitone gây ra [60]. Thử tác dụng kháng ung bướu của cao chiết methanol cây ban tròn cho thấy IC50 trên tế bào ung thư gan HEP-2 là 1,71µg/ml, trên dòng RD là 1,53µg/ml và trên dòng Vero là 2,23µg/ml, Nếu thử với nồng độ 100 - 200 µg/ml thì cao methanol ức chế hoàn toàn dòng ung thư HEP-2 [60].

• Cam thảo dây (Abrus precatorius L.), Họ đậu (Fabaceae): Cây mọc hoang ở vùng rừng núi, nhiều nhất ở vùng ven biển. Bộ phận sử dụng: Rễ, dây, lá, thu hái vào mùa thu đông, tốt nhất khi cây mới ra hoa. Công dụng: Chữa ho, cảm sốt, hoàng đản do viêm gan siêu vi trùng, giải độc, vị ngọt nên dùng trong các đơn thuốc cho dễ uống. Ngày dùng 8-16g sắc uống [28].

Cam thảo dây còn chưa được nghiên cứu đối với bệnh viêm gan, chủ yếu được dùng theo kinh nghiệm của nhân dân. Tác dụng kháng khuẩn của dịch chiết từ lá cam thảo dây: kháng Staphylococcus aureus với gía trị MIC of 8 ug/ml [30]. Abruquinone có tác dụng kháng virut và độc tính tế bào, abruquinone B có tác dụng kháng virut, kháng vi trùng lao và vi trùng sốt rét [50]. Thành phần hóa học của lá và dây cam thảo: Trong thành phần hóa học của lá cam thảo dây có các isoflavanquinone, abruquinone B, abruquinone G [50]; saponin triterpenoid [48] và các glycosid triterpenic abrusoside A - D - là các chất ngọt tương tự như glycyrrhizin có độ ngọt gấp 30 - 100 lần đường sucrose [36].

Các saponin triterpenoid có tác dụng kháng viêm. • Diệp hạ châu (chó đẻ răng cưa) (Phyllanthus urinaria L.): Nhân dân dùng cây diệp hạ châu để chữa bệnh gan từ lâu đời. Kết quả nghiên cứu của một số tác giả cho rằng diệp hạ châu có tác dụng kháng sự nhân lên của nhiều loại 5 virut: Virut viêm gan B, Epstein-Bar virut, retrovirut, hespes simplex virut (HSV), cải thiện enzym gan, chuyển đổi các dấu ấn của virút VGB trên lâm sàng ở bệnh nhân viêm gan B mạn tính [68]. Gần đây, các tác giả Hàn Quốc phát hiện ellagic acid chiết tách từ diệp hạ châu có tác dụng phóng bế virut VGB giải phóng HBeAg (kháng nguyên e) trong các tế bào gan (IC50 = 0,07 microg/ml) [64].

Thành phần hoạt chất của diệp hạ châu là các lignan (phyllanthin, hypophyllanthin, phyltetralin và niranthin) và các flavonoid ellagic acid, gallic acid, geraniin [73]. Ở Việt Nam diệp hạ châu thường được dùng phối hợp với các vị thuốc đông dược khác trong một số bài thuốc điều trị bệnh gan. • Dứa gai (Pandanus odoratissimus L.): Nhân dân thường dùng quả để chữa bệnh gan, đầy bụng, khó tiêu, hoàng đản. Thành phần hoá học và tác dụng sinh học của quả dứa gai còn ít được nghiên cứu.

Năm 2002 trong khuôn khổ của đề tài cấp Viện Dược liệu (do TS. Phạm Thanh Trúc làm chủ nhiệm) chúng tôi đã nghiên cứu tác dụng bảo vệ gan của cao lỏng quả dứa gai thu hái tại tỉnh Kiên Giang.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Sàng lọc vị thuốc, bài thuốc điều trị viêm gan mạn do siêu vi B hiệu quả" cung cấp một cái nhìn chi tiết về các phương pháp điều trị viêm gan mạn tính do virus B bằng các bài thuốc Đông y. Nội dung tập trung vào việc sàng lọc và đánh giá hiệu quả của các vị thuốc truyền thống, đồng thời đề xuất các giải pháp hỗ trợ điều trị bệnh một cách an toàn và bền vững. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho những ai đang tìm kiếm phương pháp điều trị viêm gan mạn tính từ góc độ y học cổ truyền.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu y học liên quan, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ nghiên cứu mối liên quan giữa resistin visfatin với một số nguy cơ tim mạch chuyển hóa ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2, Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu điều trị ung thư vú giai đoạn di căn bằng hóa trị phối hợp anthracycline và taxane, và Luận án tiến sĩ nghiên cứu xác định tỷ lệ nhiễm và chế tạo kit chẩn đoán bệnh tiên mao trùng trypanosomiasis ở đàn trâu tại tỉnh tuyên quang. Những tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu sâu hơn về các phương pháp nghiên cứu và điều trị trong lĩnh vực y học hiện đại và truyền thống.