CHƯƠNG I. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu sán lá đơn chủ ở các nước lân cận: Nghiên cứu về khu hệ sán lá đơn chủ ở biển Đông và các vùng biển lân cận thời gian gần đây mới được quan tâm nghiên cứu sâu rộng. Ở Trung Quốc, Yamaguti (1937) mô tả loài sán lá đơn chủ đầu tiên Axine chinensis từ cá Hapalogenys mitens trên vùng biển phía đông nhưng mãi đến 12 năm sau mới có công trình tiếp theo về đối tượng này khi Yin và Sproston (1949) [60] phát hiện 2 giống Ancyrocephalus và Haliotrema.
Năm 2003, Jianying và cộng sự [31] đã thống kê được 337 loài sán lá đơn chủ thuộc 146 giống, 31 họ ký sinh trên cá biển Trung Quốc, một số loài trong số đó trích dẫn nguồn tài liệu nghiên cứu ở biển Đông của Việt Nam. Vùng đảo Ludon (Philippin) nằm phía Đông của biển Đông được nghiên cứu thành phần sán lá đơn chủ từ khá sớm. Tubangui (1931) [55] phát hiện 3 loài sán lá đơn chủ mới thuộc họ Dactylogyridae và Microcotylidae ở các loài cá hồng và cá đìa. Sau đó, Valasquez (1982) [56] và Rohde (1989) [47] phát hiện thêm 10 loài sán lá đơn chủ ở vùng biển này.
Đến nay, mới khoảng 20 loài sán lá đơn chủ được phát hiện ở vùng biển Philippin. Ở các vùng biển ở phía Nam của biển Đông, Yamaguti (1953) [58] lần đầu tiên mô tả 28 loài sán lá đơn chủ ở biển Makassar (Inđônêxia). Năm 1990 - 2000, nhiều loài sán lá đơn chủ mới được phát hiện ở ngoài khơi Peninsular Malaysia. Năm 1998, Lim [39] đã tổng hợp được 113 loài sán lá đơn chủ ký sinh ở 69 loài cá biển trong các vùng biển Đông Nam Á; Malaysia có thành phần loài sán lá đơn chủ nhiều nhất - 57 loài, tiếp đến là Inđônêxia – 32 loài, Việt Nam – 25 loài, Philippin – 14 loài.
Tuy nhiên trong 10 năm gần đây, các nhà khoa học đã phát hiện khoảng 20 loài sán lá đơn chủ mới cho khoa học ở các vùng biển xung quanh biển Đông, trong đó 7 loài ở biển Trung Quốc (Cao et al., 2010 [11]; Tingbao et al., 3 download by : skknchat@gmail.com 2005 [54], Wu et al., 2005 [57]; Yang et al., 2005 [59]; Yuan et al., 2013 [61]; Zeng et al., 2007 [62]) và 10 loài ở ngoài khơi Boneo, Malaysia (Chisholm & Whittington, 2005, 2012 [13-14-15]; Lim, 2006 [40]; Soo et al. Nhìn chung, nghiên cứu về thành phần loài sán lá đơn chủ ở các nước trong khu vực có tính chất đơn lẻ, rải rác ở một số loài cá và trên một vài vùng biển nhỏ ở Boneo, Peninsular (Malayxia) hay biển Hoa Đông (Trung Quốc). Nếu so sánh với một số vùng biển thuộc phía Tây Thái Bình Dương của Ôxtrâylia thì số lượng loài sán lá đơn chủ được phát hiện ở khu vực biển Đông khiêm tốn hơn rất nhiều. Với tổng số 3365 loài cá được ghi nhận (Randall & Lim, 2000 [46]) phân bố trong 3,4 triệu km2 ở vùng biển nhiệt đới Đông Nam Á, rõ ràng sự hiểu biết về khu hệ ký sinh trùng nói chung và khu hệ sán lá đơn chủ nói riêng còn rất hạn chế.
Những năm gần đây, các kỹ thuật nghiên cứu hiện đại đã được sử dụng thường xuyên hơn trong công tác xác định thành phần loài ký sinh trùng nước mặn bên cạnh với các phương pháp truyền thống. Các loài sán lá đơn chủ tuy vẫn được nghiên cứu về hình thái học mô tả là chủ yếu, nhưng các kỹ thuật sinh học phân tử đã giúp đỡ rất nhiều trong việc xác định nhanh tên loài, vị trí của chúng trong hệ thống phân loại và mối quan hệ họ hàng của các loài, quần thể loài trong các hệ sinh thái biển (Wu et al., 2005 [57]; Dang et al., 2010, 2012 [17-18]; Soo et al., 2015 [53]; Kritsky et al.2 Tình hình nghiên cứu sán lá đơn chủ trong nước Nghiên cứu khu hệ sán lá đơn chủ ở biển Việt Nam chỉ bắt đầu khi các nhà khoa học người Nga công bố về khu hệ giun sán ký sinh ở họ cá Khế - Carangidae (Lebedev, 1968a)[34] và các loài của họ sán lá đơn chủ Monogenoidea,Gasterocotylidae, Gasterocotylinae và Heteraxinidae (Lebedev, 1968 b,c) [35-36]. Năm 1970, trong công trình “Giun sán ký sinh ở cá nổi của biển Đông”, 4 download by : skknchat@gmail.com Lebedev [37] đã công bố 28 loài sán lá đơn chủ từ 26 loài cá nổi nghiên cứu. Cũng trong năm này, Mamaev [41] đã công bố 15 loài sán lá đơn chủ ở 9 loài cá biển ở vịnh Bắc bộ trong công trình “Giun sán ký sinh ở một số loài cá thực phẩm ở vịnh Bắc bộ”.
Sau đó, một số công trình nghiên cứu về tình hình nhiễm giun sán ở cá biển tiếp tục được công bố, một số loài sán lá đơn chủ mới được mô tả. Năm 1998, khi nghiên cứu về thành phần ký sinh trùng ở 3 loài cá Song nuôi ở vịnh Hạ Long, gồm cá Song sáu sọc (Epinephelus sexfasciatus), cá Song mỡ (E. tauvina) và cá Song (E. bruneus), Bùi Quang Tề [6] đãphát hiện 13 loài ký sinh trùng, trong đó ghi nhận 5 loài sán lá đơn chủ (Benedenia epinepheli, Benedenia sp., Diplectanum hargisi, Haliotrema sp., Pseudorhabdosynochus epinepheli) có tỷ lệ nhiễm rất cao từ 71,4-93,8%.
Võ Thế Dũng (2005) [2] khi nghiên cứu 3 loài cá Mú nuôi ở tỉnh Khánh Hòa đã ghi nhận một số loài sán lá đơn chủ. Arthur & Bui (2006) [10] trong công trình “Checklist of the parasites of fishes of Vietnam” đã tổng hợp được 56 loài sán lá đơn chủ ở cá biển Việt Nam, chủ yếu do các nhà khoa học người Nga phát hiện. Năm 2006, Phan Thi Vanet al. [8]nghiên cứu tác nhân gây bệnh phổ biến ở cá Mú và cá Giò nuôi, đã xác định loài sán lá đơn chủ Pseudorhabdosynochus epinepheli gây bệnh nguy hiểm với cường độ nhiễm khá cao ở cá Giò ở Quảng Ninh và Hải Phòng.
Đây là một trong số ít công trình nghiên cứu về bệnh ký sinh trùng trên cá biển nuôi ở Bắc Việt Nam. Đo Thi Hoa et al. (2008) [4] khi nghiên cứu một số bệnh thường gặp ở cá biển nuôi ở Khánh Hòa đã phát hiện các loài sán lá đơn chủ Neobenedenia melleni, N.epinepheli và Neobenedenia sp. là tác nhân chính gây bệnh mè cá (bệnh ngoài da).
Ngoài ra, các tác giả còn phát hiện các loài Haliotrema sp. và Pseudorhabdosynochus sp. là tác nhân gây bệnh mủ mang trên cá biển nuôi ở Nha Trang (Khánh Hòa). Gerasev et al.
(2011) [29] khi tiến hành nghiên cứu thành phần loài sán 5 download by : skknchat@gmail.com lá đơn chủ ở một số loài cá Đối (họ Mugilidae) ở Hải Phòng đã phát hiện 14 loài thuộc giống Ligophorus, đây là nhóm ký sinh trùng đặc trưng cho họ cá Đối, lần đầu tiên được phát hiện ở Việt Nam. Nguyễn Văn Hà (2011) [3] trong công trình nghiên cứu khu hệ giun sán ở một số loài cá biển ở vịnh Hạ Long đã phát hiện và bổ sung 12 loài sán lá đơn chủ mới cho khu hệ ký sinh trùng biển Việt Nam. Năm 2012, Truong Thi Hoa et al. [5] nghiên cứu một số bệnh ký sinh trùng gây ra trên cá Chẽm (Lates calcarifer) đã xác được hai bệnh phổ biến do ký sinh trùng gây ra đó là bệnh trùng bánh xe Trichodina và bệnh do sán lá đơn chủ Pseudorhabdosynochus trên cá Chẽm nuôi ở Thừa Thiên Huế.
Bệnh xảy ra trên cá Chẽm giai đoạn cá giống và cá thịt, làm cá chết rải rác đến hàng loạt. Kết quả sử dụng formalin và hydrogen peroxide để trị bệnh trùng bánh xe và bệnh do sán lá đơn chủ gây ra trên cá Chẽm cho thấy hai loại thuốc này có khả năng trị bệnh. Sử dụng formalin ở nồng độ 200ppm và hydrogen peroxide ở nồng độ 300ppm để tắm cho cá trong 30 phút có thể tiêu diệt được Trichodina và Pseudorhabdosynochus ký sinh trên cá Chẽm. Đang Thuy Binh et al.
(2010, 2012, 2013) [16-17-18] nghiên cứu khu hệ sán lá đơn chủ ở cá Mú nuôi ở vịnh Nha Trang đã phát hiện 6 loài mới của các giống Haliotrema và Pseudorhabdosynochus. Kritsky et al.(2016) [33] đã phát hiện 5 loài sán lá đơn chủ thuộc giống Metahaliotrema, trong đó mô tả 2 loài mới cho khoa học ký sinh trên mang cá Nâu (Scatophagus argus) ở ven biển Việt Nam. Nguyen et al. Tổng cộng 95 loài sán lá đơn chủ đã được phát hiện và ghi nhận ở khoảng hơn 30 loài cá biển Việt Nam, đây là con số rất nhỏ so với số lượng loài cá biển được thống kê ở biển Việt Nam.
Đặc biệt, theo thống kê có khoảng 160 loài cá 6 download by : skknchat@gmail.com biển kinh tế nhưng mới chỉ có khoảng 10% trong số đó được nghiên cứu về bệnh ký sinh trùng ở một vài vùng biển của Việt Nam. Qua các kết quả phân tích ở trên cho thấy chưa có nhiều công trình nghiên cứu về bệnh ở các loài cá kinh tế được nuôi trên các vùng biển Việt Nam, đặc biệt ở các vùng nuôi lớn như Cát Bà (Hải Phòng), Vân Đồn, Bái Tử Long (Quảng Ninh) hoặc Phú Quốc (Kiên Giang). Nhiều loài cá có giá trị kinh tế cao như cá Hồng mỹ, cá Vược nhật chưa được nghiên cứu ký sinh trùng và bệnh do ký sinh trùng gây ra. Đặc biệt, còn thiếu các dẫn liệu về ký sinh trùng trên các loài cá có giá trị kinh tế ngoài tự nhiên nhưng chưa được nhân nuôi.
Đặc điểm khu vực rừng ngập mặn Tiên Yên, Quảng Ninh 1.Điều kiện tự nhiên [7] Vịnh Tiên Yên nằm ở vùng bờ biển Đông Bắc Việt Nam, có chiều dài khoảng 50 km, chiều rộng trung bình 7 km với tổng diện tích gần 400 km2. Rừng ngập mặn phân bố chủ yếu ở phía Bắc, Tây và tây Nam của vịnh Tiên Yên. Thực vật ngập mặn phát triển tập trung ở khu vực xã Đồng Rui, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh. Đồng Rui là khu rừng ngập mặn điển hình nhất tại miền Đông Bắc Việt Nam.
Vịnh Tiên Yên trao đổi nước với vịnh Bắc Bộ qua 5 cửa chính gồm Cửa Tiểu, Cửa Đại, Bò Vàng, Cửa Mô và Đầu Tán, đồng thời được che chắn bởi hệ thống đảo Cái Bầu, Vạn Vược, Vạn Mực, Cái Chiên và Vĩnh Thực tạo thành vịnh tương đối kín, phù hợp với sự phát triển nghề nuôi trồng hải sản. Vịnh Tiên Yên cũng chịu ảnh hưởng của các sông từ đất liền chảy ra như sông Ka Long, Tiên Yên, Ba Chẽ, Đầm Hà và Hà Cối. Do có sự ảnh hưởng mạnh của sông nên đặc điểm các hệ sinh thái của vịnh là sự phát triển mạnh của rừng ngập mặn và các thảm cỏ biển.[1] Mặc dù ở khu vực này có lượng mưa lớn (trên 2000 mm/năm) nhưng do sông suối ngắn, dốc nên nước mưa chảy mạnh ra biển và chóng hòa lẫn vào nước biển. Nồng độ muối cao và biến động ít (trung bình toàn năm khoảng 2,8- 7 download by : skknchat@gmail.