Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đề tài khoa học cấp Bộ "Quản lý tài chính công ở Việt Nam" (Mã số: 2000-98-083) do TS. Nguyễn Ngọc Hiến làm chủ nhiệm, được thực hiện tại Học viện Hành chính Quốc gia (Bộ Nội vụ) và nghiệm thu năm 2003. Công trình nghiên cứu này đặt trong bối cảnh công cuộc đổi mới kinh tế tại Việt Nam khởi xướng từ cuối năm 1986, giai đoạn chuyển dịch căn bản từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn

Trong quá trình cải cách kinh tế, Nhà nước Việt Nam chủ trương thi hành chính sách tài chính công lành mạnh nhằm phân phối nguồn lực hiệu quả, hướng tới các mục tiêu phát triển công bằng, ổn định và bền vững. Việc triển khai Luật Ngân sách nhà nước (ban hành năm 1996) cùng tiến trình cải cách thuế giai đoạn II đã thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh, mở rộng nguồn thu và từng bước cơ cấu lại các khoản chi: triệt để xóa bỏ bao cấp trực tiếp, tăng tỷ trọng chi đầu tư phát triển, đồng thời bảo đảm kinh phí cho xóa đói giảm nghèo, y tế, giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ.

Tuy nhiên, thực tiễn giai đoạn 1991–2002 bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng:

  • Khung khổ pháp luật hiện hành (Luật Ngân sách nhà nước 1996 và hệ thống văn bản luật thuế hình thành từ cuối thập niên 1980, sửa đổi trong thập niên 1990) không còn tương thích với thực tiễn phát triển.
  • Chính sách thuế chưa bao quát hết các nguồn thu phát sinh trong nền kinh tế nhiều thành phần; tình trạng thất thu thuế, trốn thuế, nợ đọng thuế dây dưa diễn ra ở mức độ lớn.
  • Công tác quản lý chi tiêu công còn phân tán, lãng phí, dàn trải nhiều mục tiêu; tư tưởng bao cấp chưa được giải quyết triệt để; hiệu quả sử dụng vốn ngân sách còn thấp.
  • Mối quan hệ điều tiết tài chính và phân cấp ngân sách giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương bộc lộ bất cập, đòi hỏi phải tái cấu trúc cơ chế phân bổ nguồn lực.

Trước đòi hỏi khách quan của Quốc hội về việc sửa đổi Luật Ngân sách nhà nước và hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế, đề tài được triển khai nhằm cung cấp cơ sở khoa học và luận cứ thực tiễn phục vụ yêu cầu đổi mới thể chế tài chính công của quốc gia.

Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài xác định rõ hai mục tiêu trọng tâm:

  1. Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về tài chính công, bao gồm bản chất, đặc điểm, vai trò và các chức năng vĩ mô của tài chính công trong nền kinh tế thị trường.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý tài chính công ở Việt Nam giai đoạn 1991–2002, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý tài chính công trong giai đoạn phát triển mới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Tài chính công dưới giác độ quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước.
  • Phạm vi nghiên cứu: Do tính bao quát rộng của phạm vi tài chính công, tác giả giới hạn đề tài ở các nội dung cốt lõi: hoạt động xác lập chính sách thuế, tạo lập nguồn thu, cơ cấu phân bổ chi tiêu ngân sách nhà nước, quản lý cân đối thu - chi và quản lý nợ chính phủ trong điều kiện chuyển đổi kinh tế sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Về mặt thời gian, dữ liệu thực tiễn tập trung chủ yếu vào giai đoạn 1991–2001 và các đánh giá hạn chế kéo dài đến năm 2002.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và quan điểm học thuật

Đề tài xây dựng khung lý thuyết dựa trên sự phát triển của tư tưởng kinh tế học công cộng thế giới, kết hợp với các nghiên cứu học thuật chuyên ngành tại Việt Nam:

  1. Trường phái Cổ điển và Tân cổ điển: Phân tích quan điểm của các đại diện chủ nghĩa trọng thương (William Petty, Pierre Le Pesant de Boisguilbert, François Quesnay, Anne Robert Jacques Turgot) và đỉnh cao là học thuyết kinh tế của Adam Smith ("Của cải của các dân tộc", 1776) với nguyên lý "bàn tay vô hình", tư tưởng thị trường tự điều chỉnh và nguyên tắc "ngân sách tốt nhất là ngân sách cân bằng", cùng các quan điểm tự do hóa thị trường của John Stuart Mill, Nassau William Senior.
  2. Lý thuyết thất bại thị trường và học thuyết John Maynard Keynes: Khủng hoảng kinh tế 1929–1933 chứng minh sự bất lực của cơ chế tự điều tiết. Học thuyết Keynes xác lập nền tảng kinh tế vĩ mô với các khái niệm hàm tiêu dùng, hiệu quả đầu tư cận biên, sở thích thanh khoản tiền mặt, khuynh hướng tiêu dùng và mô hình số nhân chi tiêu. Tác giả chỉ ra tính hai mặt của việc ứng dụng máy móc mô hình Keynes tại các nước đang phát triển (tăng gánh nặng thuế, thúc đẩy vay nợ nước ngoài dàn trải mà xem nhẹ hiệu quả vốn và năng lực bộ máy hành chính).
  3. Lý thuyết tài chính công của Richard Musgrave: Tác phẩm "Tài chính công - Lý thuyết và chính sách" của Musgrave mở rộng tiếp cận Keynesian thông qua 3 chức năng trụ cột: phân bổ nguồn lực (cung cấp hàng hóa công, xử lý ngoại ứng), phân phối thu nhập (công bằng xã hội), và ổn định kinh tế (việc làm, giá cả, cán cân thanh toán).
  4. Lý thuyết kinh tế học hiện đại và kinh tế hỗn hợp: Tham chiếu các công trình của Joseph E. Stiglitz ("Kinh tế học công cộng"), Harvey S. Rosen ("Tài chính công"), Christopher Pass, Bryan Lowes, Leslie Davies, Robert Haveman và John Bascom; tiếp cận mô hình nền kinh tế hỗn hợp kết hợp "bàn tay vô hình" của thị trường và "bàn tay hữu hình" của Nhà nước, đồng thời phân tích các "thất bại của Chính phủ" (hạn chế thông tin, quan liêu, kiểm soát yếu kém đối với khu vực tư, độ trễ hiệp thương chính trị).
  5. Quan điểm lý luận trong nước: Tiếp thu nghiên cứu của PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân cơ sở TP. Hồ Chí Minh), giáo trình "Quản lý tài chính nhà nước" (Trường Đại học Tài chính - Kế toán Hà Nội, 2000), PGS. Đỗ Văn Thành (Bộ Tài chính), và đề tài cấp bộ mã số 96-98-0411 do PGS. Lê Thế Tường chủ nhiệm (Học viện Hành chính Quốc gia, 1999).
Tiêu chí phân định Tài chính công (theo quan điểm của tác giả) Tài chính nhà nước (khái niệm rộng)
Nguồn hình thành Động viên thông qua thuế, phí, lệ phí và tín dụng nhà nước tập trung vào ngân sách. Bao gồm ngân sách nhà nước, các quỹ tập trung, quỹ ngoài ngân sách (BHXH, quỹ tích lũy, quỹ hỗ trợ đầu tư...) và nguồn vốn doanh nghiệp nhà nước.
Mục đích vận hành Phục vụ việc thực thi các chức năng vốn có của bộ máy nhà nước đối với xã hội; không mang tính sinh lời. Vừa phục vụ chức năng quản lý công quyền, vừa bao gồm các hoạt động sản xuất kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận tại các doanh nghiệp nhà nước.
Tính chất khoản chi Chủ yếu cấp phát không hoàn lại, cung cấp dịch vụ công và hàng hóa công cộng không thể thương mại hóa. Bao gồm cả chi cấp phát công vụ và các khoản đầu tư bảo toàn, phát triển vốn kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thông thường.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phối hợp 5 phương pháp nghiên cứu học thuật:

  • Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, tổng quan các học thuyết kinh tế học cổ điển, trường phái Keynes, Musgrave và các quan điểm tài chính hiện đại.
  • Phương pháp thu thập số liệu: Tập hợp dữ liệu định lượng về thu - chi ngân sách, nợ chính phủ và các báo cáo nghiệp vụ tài chính giai đoạn 1991–2001.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Bóc tách các mối quan hệ biện chứng giữa chính sách tài khóa và các mục tiêu kinh tế - xã hội để khái quát thành các luận điểm có tính quy luật.
  • Phương pháp thống kê: Xử lý dãy số liệu thời gian, phân tích cơ cấu tỷ trọng nguồn thu, các nhóm chi và hiện trạng nợ công.
  • Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến của các nhà quản lý, nhà nghiên cứu kinh tế tại các cơ quan tài chính trung ương và Học viện Hành chính Quốc gia.

Nguồn dữ liệu

Dữ liệu sử dụng trong công trình bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Hiến pháp, Luật Ngân sách nhà nước 1996, các luật thuế); các số liệu thống kê thu chi ngân sách nhà nước và nợ chính phủ thời kỳ 1991–2001 từ Bộ Tài chính, Tổng cục Thống kê; báo cáo chuyên đề từ các hội thảo khoa học và giáo trình của các trường đại học khối kinh tế - tài chính.


Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Lý luận chung về tài chính công và quản lý tài chính công

Chương I gồm 5 nội dung lớn, tập trung giải quyết toàn diện các vấn đề nhận thức luận và khung lý thuyết về tài chính công:

  • Khái niệm và đặc trưng của tài chính công: Tác giả phân tích hai cách tiếp cận: tài chính công dưới dạng môn khoa học chuyên ngành nghiên cứu các hoạt động thuế - chi tiêu công cùng tác động phân bổ nguồn lực; và tài chính công dưới dạng các quan hệ kinh tế - giá trị phản ánh quá trình hình thành, sử dụng các quỹ tiền tệ nhà nước. Bốn đặc trưng bản chất được xác lập: gắn liền quyền lực chính trị và tính cưỡng chế pháp lý; thuộc quyền sở hữu nhà nước thống nhất; nguồn thu mang tính không bồi hoàn là chủ yếu; cơ cấu bao gồm ngân sách nhà nước và tài chính các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập.
  • Cơ sở lý luận của tài chính công: Trình bày tiến trình lịch sử tư tưởng kinh tế từ trường phái tự do cổ điển của Adam Smith đến học thuyết can thiệp vĩ mô của John Maynard Keynes, hệ thống hóa mô hình ba chức năng tài khóa của Richard Musgrave (phân bổ, phân phối, ổn định), và phân tích nguyên lý kinh tế hỗn hợp hiện đại về sự tương tác giữa thất bại thị trường và thất bại chính phủ.
  • Đặc điểm, vai trò và chức năng: Làm rõ nguyên lý tối ưu hóa Pareto thông qua đường cong giới hạn khả năng - lợi ích (quá trình tăng trưởng kinh tế bản chất là quá trình cải thiện Pareto); phân tích công cụ đường cong Lorenz nhằm đo lường phân phối công bằng thu nhập trước và sau thuế/trợ cấp. Đánh giá vai trò của tài chính công trong huy động nguồn lực thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa, điều tiết vĩ mô, duy trì hoạt động bộ máy nhà nước và củng cố an ninh quốc phòng.
  • Lý luận chung về quản lý tài chính công: Định danh quản lý tài chính công là sự điều hành có chủ đích của Nhà nước thông qua hệ thống pháp luật, kế hoạch hóa, chính sách kinh tế vĩ mô, công tác thanh tra kiểm toán và bộ máy tổ chức. Đặt ra 4 yêu cầu quan điểm: phục vụ đường lối chính trị; thúc đẩy phát triển kinh tế và ổn định xã hội; phát huy nội lực; thực hành tiết kiệm, bảo đảm chi thường xuyên không vượt quá nguồn thu từ thuế - phí, khống chế bội chi ngân sách ở ngưỡng an toàn (mức chuẩn định tính là 3% GDP).
  • Kinh nghiệm quốc tế: Tổng thuật và rút ra bài học kinh nghiệm từ mô hình quản lý ngân sách, kiểm soát chi tiêu công và phân cấp tài chính của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới.

Chương II: Thực trạng quản lý tài chính công ở nước ta thời gian qua

Chương II phản ánh thực trạng tài chính công Việt Nam qua 6 tiểu mục:

  • Thời kỳ trước đổi mới (trước 1986): Nền tài chính vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, hiện vật hóa; nguồn thu dựa chủ yếu vào xí nghiệp quốc doanh và viện trợ nước ngoài; chi tiêu mang nặng tính bình quân bao cấp, làm triệt tiêu động lực sản xuất và gây thâm hụt ngân sách trầm trọng kéo dài.
  • Khái quát quản lý tài chính công thời kỳ đổi mới: Giai đoạn từ năm 1986, Nhà nước từng bước tiền tệ hóa các mối quan hệ phân phối, cơ cấu lại ngân sách, mở rộng quyền tự chủ tài chính bước đầu cho cơ sở và áp dụng nguyên tắc quản lý bằng pháp luật.
  • Thực trạng quản lý thu ngân sách nhà nước (1991–2001): Khảo sát toàn diện hệ thống thuế sau hai bước cải cách; đánh giá mức độ động viên GDP vào ngân sách; bóc tách cơ cấu nguồn thu giữa khu vực doanh nghiệp nhà nước, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và các khoản thu từ dầu thô, đất đai.
  • Thực trạng chi ngân sách nhà nước (1991–2001): Phân tích biến động cơ cấu chi giữa chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển; đánh giá mức độ ưu tiên chi cho giáo dục, y tế, văn hóa, xóa đói giảm nghèo, cũng như cơ chế cấp phát, kiểm soát chi qua hệ thống Kho bạc Nhà nước.
  • Đánh giá thực trạng nợ chính phủ của Việt Nam: Rà soát quy mô nợ trong nước (phát hành trái phiếu, tín phiếu) và nợ nước ngoài (vay song phương, đa phương); cơ cấu các nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi; phân tích rủi ro thanh khoản và áp lực trả nợ lên ngân sách thường niên.
  • Những hạn chế giai đoạn 1991–2002: Chỉ rõ 4 khuyết tật lớn: hệ thống văn bản pháp luật thiếu đồng bộ; cơ chế phân cấp ngân sách chưa rõ ràng, tạo sự phụ thuộc của địa phương vào trung ương; tình trạng thất thu, nợ đọng thuế cao đi liền với thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản; quản lý các đơn vị hành chính sự nghiệp còn cào bằng, chưa gắn kinh phí với kết quả công việc.

Chương III: Các giải pháp tăng cường quản lý tài chính công trong thời gian tới

Chương III hệ thống hóa các nhóm giải pháp cải cách hành chính - tài chính đồng bộ:

  • Mục tiêu và nguyên tắc đổi mới: Xác định mục tiêu xây dựng nền tài chính công lành mạnh, phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, nâng cao hiệu lực bộ máy công quyền; tuân thủ các nguyên tắc tập trung dân chủ, thống nhất ngân sách, kỷ cương pháp luật và công khai minh bạch.
  • Tăng cường quản lý nhà nước về thuế và thu thuế: Rà soát, sửa đổi hệ thống luật thuế (thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tiêu thụ đặc biệt) theo hướng mở rộng diện điều tiết, đơn giản hóa thuế suất; hiện đại hóa quy trình thu thuế; xử lý dứt điểm các khoản nợ thuế đọng; tăng cường thanh tra chống buôn lậu và gian lận thương mại.
  • Đổi mới và hoàn thiện chính sách chi tiêu của Chính phủ: Thực hiện cơ cấu lại chi tiêu công; giữ nghiêm nguyên tắc không dùng nguồn vốn vay nợ để trang trải chi thường xuyên; ban hành hệ thống định mức chi tiêu khoa học; thí điểm và nhân rộng cơ chế giao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công (giáo dục, y tế, truyền hình...), chuyển từ cấp phát kinh phí theo đầu vào biên chế sang cơ chế Nhà nước đặt hàng mua sản phẩm dịch vụ công theo chất lượng và tiến độ.
  • Đổi mới cơ chế phân cấp quản lý ngân sách nhà nước: Hoàn thiện Luật Ngân sách nhà nước; xác định rành mạch nguồn thu phân chia và nhiệm vụ chi cụ thể giữa ngân sách trung ương và từng cấp ngân sách địa phương; nâng cao tính chủ động của chính quyền địa phương gắn với tăng cường quyền giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp.
  • Hoàn thiện quy trình quản lý ngân sách nhà nước: Đổi mới khâu lập, chấp hành và quyết toán ngân sách; chuyển từ kiểm soát đầu vào sang kiểm soát đầu ra; tăng cường vai trò kiểm soát chi của Kho bạc Nhà nước; mở rộng hoạt động kiểm toán ngân sách theo hướng bắt buộc, củng cố vị trí pháp lý độc lập tương đối của Kiểm toán Nhà nước.
  • Tăng cường khuyến khích đầu tư: Sử dụng linh hoạt công cụ ưu đãi tài chính, chính sách tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; đa dạng hóa thị trường vốn nhằm khơi thông nguồn lực nhàn rỗi trong nhân dân phục vụ các dự án hạ tầng trọng điểm.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

  1. Xác lập khung phân định học thuật rõ ràng: Công trình đã làm sáng tỏ nội hàm lý luận của khái niệm "tài chính công" trong hệ thống tài chính quốc dân Việt Nam, chỉ ra 3 tiêu chí phân biệt bản chất giữa tài chính công và tài chính nhà nước (về nguồn thu, mục đích phi thương mại, và chức năng công quyền).
  2. Khái quát hóa mối liên hệ giữa lý thuyết tài khóa và thực tiễn điều hành: Vận dụng thành công các công cụ phân tích hiện đại (nguyên lý tối ưu Pareto, đường cong Lorenz) để làm căn cứ khoa học chứng minh vai trò điều tiết thu nhập, giảm nghèo và sửa chữa khiếm khuyết thị trường của ngân sách nhà nước.
  3. Đánh giá thực trạng có tính hệ thống: Đề tài đã tái hiện bức tranh tài chính công giai đoạn 1991–2001, xác định mối tương quan giữa thu - chi và nợ chính phủ; lượng hóa mục tiêu khống chế bội chi ngân sách ở mức 3% GDP làm ngưỡng an toàn vĩ mô trong quản trị tài chính.

Hệ thống giải pháp và kiến nghị

  • Kiến nghị Quốc hội và Chính phủ sửa đổi toàn diện Luật Ngân sách nhà nước 1996 theo hướng đổi mới thẩm quyền: Quốc hội quyết định tổng thể thu chi và chỉ tiêu theo lĩnh vực; Hội đồng nhân dân các cấp quyết định ngân sách địa phương sát với thực tiễn.
  • Đề xuất đột phá về phương thức quản lý tài chính công lập: Chuyển đổi căn bản từ việc quản lý theo các yếu tố đầu vào (giao biên chế, cấp ngân sách cố định) sang quản lý sản phẩm đầu ra, áp dụng phương thức đấu thầu, đặt hàng cung cấp dịch vụ công ích.
  • Nâng cao tính kỷ cương pháp lý: Thể chế hóa kiểm toán ngân sách thành thủ tục bắt buộc; tăng cường độc lập cho cơ quan Kiểm toán Nhà nước và quy định rõ chế tài xử lý trách nhiệm cá nhân đối với các sai phạm gây thất thoát, lãng phí tài sản công.

Đóng góp về mặt học thuật

Đề tài là một trong những công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên tại Học viện Hành chính Quốc gia tiếp cận vấn đề tài chính công dưới góc độ khoa học quản trị hành chính công kết hợp với kinh tế học hiện đại. Nghiên cứu đã góp phần khắc phục nhận thức cũ coi tài chính công thuần túy là nghiệp vụ kế toán - cấp phát, nâng tầm thành công cụ điều tiết vĩ mô chiến lược phục vụ tiến trình cải cách nền hành chính nhà nước.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Giới hạn phạm vi nghiên cứu nội dung: Tác giả chủ yếu tập trung phân tích chính sách thuế và chi ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách (quỹ dự trữ tài chính, quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ hỗ trợ đầu tư) chưa được đi sâu phân tích tương xứng với quy mô thực tế.
  • Khung thời gian dữ liệu: Số liệu phân tích định lượng tập trung vào giai đoạn 1991–2001, các đánh giá hạn chế dừng lại ở mốc năm 2002. Do thời điểm nghiên cứu trước khi Luật Ngân sách nhà nước sửa đổi năm 2002 chính thức đi vào thực thi, một số nội dung đề xuất mang tính dự báo và đón đầu thể chế.
  • Kinh nghiệm quốc tế: Phần nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài chủ yếu mang tính tổng hợp, đối chiếu chính sách chung, chưa xây dựng được mô hình kinh tế lượng so sánh tác động cụ thể giữa các nước có điều kiện kinh tế tương đồng với Việt Nam.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Nghiên cứu, đánh giá tác động thực tế của việc thực hiện Luật Ngân sách nhà nước sửa đổi và các sắc thuế mới được ban hành sau giai đoạn nghiên cứu.
  • Đi sâu nghiên cứu cơ chế quản trị rủi ro nợ công và mô hình giám sát tài chính đối với các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách.
  • Xây dựng hệ thống tiêu chí định lượng đo lường hiệu quả sản phẩm đầu ra của các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp dịch vụ công khi thực hiện quyền tự chủ tài chính.

Giá trị tham khảo

Báo cáo nghiên cứu đề tài mã số 2000-98-083 mang giá trị tham khảo học thuật và ứng dụng thực tiễn cao:

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Học viên cao học, nghiên cứu sinh và sinh viên các chuyên ngành: Quản lý công, Hành chính công, Quản lý kinh tế, Tài chính - Ngân hàng, Luật Kinh tế.
    • Cán bộ, chuyên viên làm việc tại các cơ quan hoạch định chính sách tài khóa, quản lý ngân sách và thanh tra, kiểm toán (Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Kho bạc Nhà nước, Kiểm toán Nhà nước, các Sở Tài chính địa phương).
  • Các phần nội dung có giá trị tham khảo chuyên sâu:
    • Chương I (mục 1, 2 và 4): Là tài liệu chuẩn mực để tham khảo xây dựng khung lý luận về tài chính công, cách tiếp cận đối sánh trường phái kinh tế (Adam Smith, Keynes, Musgrave) và ranh giới phân định giữa tài chính công với tài chính doanh nghiệp/tài chính tư.
    • Chương III (mục 3 và 4): Cung cấp luận cứ sắc bén về cải cách phân cấp ngân sách trung ương - địa phương và giải pháp chuyển đổi cơ chế quản lý ngân sách từ đầu vào sang đầu ra đối với các cơ quan hành chính nhà nước.

Câu hỏi thường gặp

1. Tác giả phân biệt khái niệm "tài chính công" và "tài chính nhà nước" dựa trên những điểm khác biệt căn bản nào?
Trả lời: Tác giả chỉ ra 3 điểm khác biệt cốt lõi: (1) Tài chính công gắn với việc tạo nguồn thu qua thuế, lệ phí và tín dụng nhà nước, trong khi tài chính nhà nước rộng hơn, bao hàm cả các quỹ tài chính ngoài ngân sách; (2) Tài chính công không nhằm mục đích kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận, còn tài chính nhà nước bao gồm cả hoạt động kinh doanh sinh lời của doanh nghiệp nhà nước; (3) Chi tiêu tài chính công phục vụ các chức năng hành chính công quyền vốn có của Nhà nước, trong khi tài chính nhà nước chi trả cho cả việc sản xuất các hàng hóa, dịch vụ thương mại thông thường.

2. Ba chức năng cơ bản của tài chính công theo mô hình của Richard Musgrave được đề tài trình bày như thế nào?
Trả lời: Ba chức năng gồm: (1) Chức năng phân bổ nguồn lực: Cung cấp hàng hóa công cộng và khắc phục thất bại của thị trường bằng công cụ thuế và chi ngân sách; (2) Chức năng phân phối: Điều chỉnh bất bình đẳng thu nhập và tài sản trong xã hội nhằm bảo đảm công bằng; (3) Chức năng ổn định: Sử dụng chính sách chi tiêu và thuế để duy trì mức việc làm cao, ổn định giá cả và cân bằng cán cân thanh toán.

3. Đề tài chỉ ra nhược điểm gì khi các nước đang phát triển áp dụng máy móc học thuyết tài chính của Keynes?
Trả lời: Tác giả phân tích rằng việc áp dụng máy móc chính sách kích cầu của Keynes ở các nước đang phát triển dẫn tới: (1) Yêu cầu tăng thuế chung chung mà không tính đến tác động tiêu cực làm méo mó sản xuất, xuất nhập khẩu và năng lực quản lý hành chính hạn chế, dễ dẫn tới việc thu các loại thuế kém hiệu quả; (2) Quá chú ý vào việc gia tăng quy mô tạo vốn bằng vay nợ nước ngoài mà bỏ qua yếu tố chất lượng và hiệu quả sử dụng vốn, gây áp lực nợ nần cho nền kinh tế.

4. Đề xuất đổi mới phương thức quản lý chi đối với cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp dịch vụ công có điểm gì đột phá?
Trả lời: Tác giả đề xuất chuyển từ phương thức "quản lý đầu vào" (kiểm soát số lượng biên chế, cấp phát kinh phí hành chính cào bằng) sang "quản lý sản phẩm đầu ra". Đối với các đơn vị dịch vụ công trong lĩnh vực y tế, giáo dục, truyền hình, vệ sinh công cộng, Nhà nước thí nghiệm phương thức không cấp phát chi phí thường xuyên mà chuyển sang mua sản phẩm/dịch vụ theo giá cả phù hợp với chất lượng và tiến độ hoàn thành.

5. Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý tài chính công tại Việt Nam được phân loại theo hai giác độ tiếp cận nào?
Trả lời: Bộ máy được xem xét trên hai giác độ: (1) Theo nghĩa rộng: Bao gồm các cơ quan tài chính chuyên môn và toàn bộ các cơ quan, tổ chức có sử dụng nguồn kinh phí của Nhà nước từ trung ương đến địa phương; (2) Theo nghĩa trực tiếp: Chỉ gồm hệ thống các cơ quan tài chính chuyên môn quản lý nhà nước, cụ thể là Bộ Tài chính và hệ thống các đơn vị trực thuộc (Tổng cục Thuế, Tổng cục Đầu tư phát triển, Kho bạc Nhà nước, các Vụ chức năng) cùng các cơ quan tương ứng ở cấp tỉnh/huyện (Sở Tài chính, Cục Thuế, Kho bạc Nhà nước tỉnh...).


Kết luận

Đề tài khoa học cấp Bộ "Quản lý tài chính công ở Việt Nam" (Mã số: 2000-98-083) của TS. Nguyễn Ngọc Hiến là công trình nghiên cứu toàn diện, kết hợp chặt chẽ giữa hệ thống lý luận kinh tế học công cộng quốc tế và thực tiễn điều hành tài chính vĩ mô của Nhà nước Việt Nam. Công trình đã phân tích thấu đáo thực trạng thu - chi ngân sách và nợ chính phủ thời kỳ 1991–2002, chỉ rõ những khiếm khuyết thể chế cần khắc phục trong tiến trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các nhóm giải pháp do tác giả đề xuất về đổi mới phân cấp ngân sách, chuyển đổi quản lý đầu vào sang đầu ra và củng cố kiểm toán bắt buộc có giá trị khoa học vững chắc, đóng góp trực tiếp vào công tác sửa đổi hệ thống pháp luật tài chính của Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI.