Chương I: TỔNG QUAN VỀ GIAO DỊCH VÀNG VÀ THỊ TRƯỜNG VÀNG 1. Nguồn gốc và quá trình phát triển các giao dịch vàng. Nguồn gốc: Từ 5.000 năm trước công nguyên, loài người đã tìm ra vàng và sử dụng vàng. Người Ai Cập là người phát hiện ra trước tiên ở thượng lưu Sông Nil và kim loại quý này đã góp mặt vào nền văn minh cổ đại Ai Cập.
Theo dòng tiến hóa của nhân loại, sắc vàng rực rỡ choáng ngợp ấy là niềm vui, nguồn hy vọng cho biết bao nhiêu người. Vàng đã đóng vai trò rất quan trọng trong hệ thống tiền tệ quốc tế trước những năm 1930. Vào thời đó, các nước thường sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán, trao đổi và cất trữ. Vàng được sử dụng như vậy vì nó có những đặc tính ưu việt như bền, dễ cất trữ, dễ di chuyển, dễ chấp nhận.
Nhưng quan trọng hơn hết là vì vàng là hóa tệ có sức mua bảo đảm và ổn định lâu dài. Vì những đặc tính quan trọng trên đây, hầu hết các nước đều ưa chuộng vàng và sử dụng vàng như là phương tiện tiền tệ trên bình diện quốc tế, vàng chiếm vị trí độc tôn trong thanh toán quốc tế. Quá trình phát triển các giao dịch vàng: Từ đầu thế kỷ thứ 7 trước công nguyên tiền kim loại đã bắt đầu được sử dụng và phát triển rộng rãi. Tuy nhiên, mãi đến cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 hầu hết các nước Phương Tây đã áp dụng chế độ bản vị vàng và mối quan hệ giao thương bị phụ thuộc nhiều vào Châu Âu nên sau đó các nước Châu Á như Nhật, Ấn Độ, các nước Đông Dương, Trung Quốc… cũng lần lượt chuyển sang chế độ bản vị vàng.
Ngày 12/9/1919, sàn giao dịch vàng London (thị trường kim loại quý London) giao dịch phiên đầu tiên, công bố giá 1 ounce (oz) = 4 bảng 18 shilling 9 penny, tương đương 20,67 USD/oz. Đến năm 1933, giá vàng thế giới được giữ ở mức 20,67 USD/oz. Sau đó, Tổng thống Mỹ Roosevelt ra lệnh cấm xuất khẩu vàng, ngưng hoán chuyển USD thành 123doc 2 vàng, buộc người dân giao nộp vàng đang sở hữu nhằm thúc đẩy kinh tế Mỹ và giành quyền tự định giá vàng. Vào 31/01/1934, giá vàng tăng lên 35 USD/oz, đô la Mỹ giảm giá gần 40%.
Cho đến trước những năm 70, sàn giao dịch vàng tập trung chủ yếu ở thị trường London, được biết đến với sự hoạt động của 5 tổ chức lớn, đưa ra mức giá khớp lệnh 2 lần/ngày. Năm 1954, chế độ bản vị vàng Bretton Woods thay thế, giá vàng vẫn tính bằng Bảng nhưng được Ngân hàng Anh qui đổi tương đương 35USD/oz. Việc duy trì giá vàng 35 USD/oz ngày càng khó khăn khi thị trường vàng cá nhân phát triển. Từ đầu năm 1961, Ngân hàng Anh nhiều lần phải bán vàng dự trữ để giữ giá 35 USD/oz và liên minh giữa các Ngân hàng trung ương thành lập Quỹ vàng (Gold pool) để bình ổn giá.
Năm 1965, nhu cầu vàng cá nhân bắt đầu tăng cao, vượt quá nguồn cung, buộc các Ngân hàng trung ương bán vàng dự trữ ra thị trường để bình ổn giá. Ngày 01/04/1968, sàn giao dịch vàng London mở cửa lại sau khi cơn sốt mua vàng đầu cơ làm sụp đổ Quỹ vàng, đồng thời bắt đầu định giá vàng bằng USD, không còn cố định mà thả nổi với 2 lần khớp giá/ngày. Tóm lại, lịch sử ra đời và phát triển của các giao dịch vàng luôn mang dấu ấn của nền văn minh nhân loại. Điều này đã được chứng minh qua từng thời kỳ phát triển của giao dịch vàng.
Các chức năng của vàng: 1. Phương tiện trao đổi. Với chức năng này vàng đã tạo điều kiện cho trao đổi hàng hóa trở nên thuận tiện hơn. Trước kia người ta thường trao đổi trực tiếp hàng hóa này để lấy hàng hóa khác.
Tuy nhiên, khi lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội phát triển thì việc trao đổi hàng lấy hàng bị hạn chế do khó tìm được hàng hóa mà họ cần để trao đổi. Vì thế, theo thời gian con người đã tìm ra loại phương tiện chung để trao đổi, đó là vàng. Và từ đó vàng đã trở thành tiền tệ. Lúc đầu, có nhiều kim loại đóng vai trò là tiền tệ, nhưng về sau được cố định ở kim loại quý 123doc 3 là vàng.
Sở dĩ vàng đóng vai trò là tiền tệ do vàng có những ưu điểm là: thuần nhất về chất, dễ chia nhỏ, không hư hỏng, và với thể tích nhỏ nhưng vàng lại chứa một lượng giá trị lớn. Tiền vàng ra đời là kết quả quá trình phát triển lâu dài của sản xuất và trao đổi hàng hóa. Phương tiện thanh toán. Làm phương tiện thanh toán, vàng được dùng để trả nợ, trả tiền mua hàng,…Khi sản xuất và trao đổi hàng hóa phát triển đến trình độ nào đó nảy sinh việc mua bán chịu.
Trong hình thức giao dịch này, trước tiên vàng làm chức năng thước đo giá trị để định giá cả hàng hóa. Nhưng vì là mua bán chịu nên đến kỳ hạn vàng được đưa vào lưu thông để làm phương tiện thanh toán. Ngày nay, việc sử dụng vàng để thanh toán trong các giao dịch mua, bán diễn ra hết sức phổ biến. Ví dụ như: mua bán nhà, xuất nhập khẩu hàng hóa từ các nước khác,… 1.
Phương tiện tích trữ. Làm phương tiện tích trữ, tức là vàng được rút khỏi lưu thông đưa vào cất trữ. Nếu sản xuất tăng, lượng hàng hóa nhiều thì tiền vàng cất trữ được đưa vào lưu thông. Ngược lại, nếu sản xuất giảm lượng hàng hóa lại ít thì một phần tiền vàng rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ.
Trong suốt chiều dài của lịch sử nhân loại, chiến tranh liên tiếp chiến tranh. Do đó việc lưu trữ tiền luôn ẩn chứa những rủi ro bất trắc. Chỉ có vàng là loại tài sản được xem là có giá trị bất biến theo thời gian, dù trong chế độ nào thì vàng vẫn là vàng. Vàng không chỉ được sử dụng để thanh toán mà còn được dùng để tích lũy phòng ngừa rủi ro trong giai đoạn lạm phát của nền kinh tế.
Tích lũy tiền vàng được xem như hình thức bảo tồn tài sản của mình. Ngày nay, việc dự trữ vàng của Ngân hàng Trung ương các quốc gia trên thế giới ngày càng tăng. Tại nhiều quốc gia trên thế giới, các ngân hàng Trung ương đang đưa vàng vào danh mục dự trữ của mình thay cho việc dự trữ Đôla Mỹ như trước đây. Các hình thức đầu tư vàng trên thế giới: 1.
Cách đầu tư truyền thống nhất là mua vàng thỏi (Bar). Ở một số nước như Áo, Liechtenstein và Thụy Sĩ, có thể mua bán vàng thỏi dễ dàng. Loại vàng thỏi này có nhiều kích cở khác nhau. Ví dụ như ở Châu Âu là 12.5kg/thỏi hay 1kg/thỏi.
Là cách phổ biến tích trữ vàng trên thế giới, thông thường được định giá theo trọng lượng đồng vàng. Đồng vàng phổ biến nhất là đồng vàng Nam Phi tên Krugrrand, đồng vàng Canada Maple leaf, đồng vàng Trung Quốc Panda, của Áo Philhaarmonic với giá trị là 1 troy ounce/đồng (1 ounce = 28. Chứng chỉ vàng. Là chứng chỉ về quyền sở hữu vàng cho lượng vàng được mua của các nhà đầu tư thay vì phải tích trữ lượng vàng thật sự.
Chứng chỉ vàng cho phép nhà đầu tư mua hay bán chứng chỉ không liên quan tới việc chuyển giao vàng thật sự. PMCP (the perth Mint Certificate Progame) là chứng chỉ vàng duy nhất thế giới. Trên chứng chỉ này có tên của người mua và một con số nhận dạng. PMCP là chứng chỉ vàng duy nhất trên thế giới được bảo đảm bởi chính quyền Australia.
Người sở hữu chứng chỉ có thể bán lại chứng chỉ vàng cho các nhà kinh doanh đã được chấp nhận. Trong trường hợp bị mất chứng chỉ thì có thể được cấp ngay một chứng chỉ tương đương và một phần phí. Tài khoản vàng. Kinh doanh vàng tài khoản là hoạt động kinh doanh vàng thông qua tài khoản tại nước ngoài dưới các hình thức giao dịch theo thông lệ quốc tế.
Hình thức kinh doanh vàng trên tài khoản giống như kinh doanh ngoại hối, nhà đầu tư có thể đặt lệnh mua bán thông qua các ngân hàng có kinh doanh nghiệp vụ này. Tổng quan về thị trường vàng thế giới. Các chủ thể tham gia thị trường vàng. Ngân hàng trung ương.
Hầu hết các ngân hàng trung ương có dự trữ chiến lược chính là USD và các tài sản khác bằng USD (như trái phiếu, kỳ phiếu, ngân khố Mỹ…), tuy nhiên do yêu cầu đa dạng hóa dự trữ chiến lược nên các NHTW thường chọn vàng là tài sản thứ hai. Mặc dù các NHTW lớn đã bán ra lượng lớn vàng trong thời gian qua, nhưng vẫn có nhiều NHTW khác mua vàng như là một phần trăm dự trữ quốc gia nhằm đối phó các khủng hoảng nếu xảy ra. Điển hình, các NHTW có dự trữ vàng lớn và liên tục mua vào trong các năm qua với khối lượng lớn là Trung Quốc, Nga, Ấn Độ… 1. Các nhà đầu cơ vàng.
Giống như các nhà đầu cơ tiền tệ, nhà đầu cơ vàng nếu tin rằng đồng USD sẽ mất giá trong tương lai thì họ sẽ mua vàng vào với kỳ vọng giá vàng sẽ tăng hơn nữa. Trong trường hợp ngược lại, khi USD tăng giá thì họ sẽ bán vàng ra với kỳ vọng sẽ mua lại ở giá thấp hơn. Đặc biệt trong trường hợp có chiến tranh, khủng bố,… thì đó cũng là cơ hội tốt để họ kinh doanh mua bán vàng. Thường thì họ là những nhà đầu cơ ngắn hạn, trung hạn.
Các tổ chức tài chính. Như các ngân hàng đầu tư, các quỹ đầu tư… có thể mua vàng để đầu tư hoặc với mục đích bảo hiểm các mức lỗ trên các sản phẩm phái sinh với giá vàng mà họ đã phát hành như chứng chỉ vàng, quyền chọn vàng, hợp đồng vàng kỳ hạn,… 1. Người tích trữ vàng. Là những người tin hay lo sợ những cuộc suy thoái lớn, những cuộc khủng hoảng kinh tế có thể xảy ra và chỉ có cách tích trữ vàng mới giúp họ tồn tại và phát đạt.
Họ xem vàng như một tài sản tích trữ trong dài hạn với niềm tin họ có thể bảo vệ được giá trị tài sản của họ. Nhà bảo hiểm danh mục đầu tư. Họ có thể mua vàng để phòng ngừa khả năng lạm phát tăng cao, các tài sản bằng tiền bị mất giá lớn hoặc các tai nạn bất ngờ xảy ra làm sụt giảm giá trị tài sản của họ. Họ cho rằng với những yếu tố bất lợi đó nếu xảy ra có ảnh hưởng tiêu cực đối với trạng thái đầu tư nhưng sẽ có tác động tích cực đối với giá trị vàng.
Nhà chế tác vàng.