THỪA KẾ THEO PHAP LUẬT CỦA CONG DAN VIỆT NAM TỪ NĂM 1945 DEN NAY TS. PHÙNG TRUNG TẬP THỪA KE THEO PHAP LUAT CUA CONG DAN VIET NAM TU NAM 1945 BEN NAY (SACH CHUYEN KHAO). NHÀ XUẤT BẢN TƯ PHÁP HÀ NỘI - 2004 Mã số: TPD - 04 - 28 LỜI NÓI ĐẦU Thừa kế di sản chính là sự chuyển dịch tài sản và quyền sở hữu tài sản của cá nhân người đã chết cho cá nhân, tổ chức có quyền hưởng thừa kế; người thừa kế trở thành chủ sở hữu của tài sản được hưởng theo di chúc hoặc theo pháp luật (đối với đất đai chỉ thừa kế quyền sử dụng). Với ý nghĩa quan trọng như vậy nên trong bat kỳ chế độ xã hội có giaI cấp nào, vấn đề thừa kế cũng có vị trí quan trọng trong các chế định pháp luật nói chung và bản thân nó cũng phản ánh phần nào bản chất chế độ xã hội đó, thậm chí còn phản ánh được tính chất từng giai đoạn trong quá trình phát triển của một chế độ xã hội nói riêng.
Ở nước ta, từ năm 1945 đến nay pháp luật thừa kế được xây dựng và hoàn thiện phù hợp với các quan hệ xã hội xã hội chủ nghĩa (XHCN), theo đó quyền và lợi ích về tài sản của công dân được chú ý bảo vệ phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Lịch sử đã cho thấy rằng, quyền thừa kế nói chung và quyền thừa kế theo pháp luật nói riêng của công dân Việt Nam có su biến đổi theo hướng ngày càng mở rộng và có sự phụ thuộc vào thành quả phát triển kinh tế - xã hội qua các thời kỳ. Xét riêng về diện thừa kế thì quyền thừa kế của công dân Việt Nam được mở rộng tương ứng với quan điểm, cách nhìn nhận đúng đắn hơn đối với mối quan hệ giữa người có tài sản để lại và những người thừa kế. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra và 5 thực hiện nhiều chủ trương.
đường lối nhằm đổi mới toàn diện đất nước, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu được thừa nhận như một quy luật tất yếu. trong đó hình thức sở hữu tư nhân đã có được vi trí quan trọng. Việc thực hiện tốt các chủ trương, đường lối đó đã tạo thêm cơ sở cho sự phát triển quyền thừa kế của công dân Việt Nam. Các đạo luật cơ bản (Hiến pháp) từ năm 1946 đến nay đều thể hiện nguyên tác Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân.
Pháp luật về thừa kế từ năm 1945 đến nay đã nhất quán trên nguyên tắc cơ bản này và đã điều chỉnh kip thời các quan hệ trong lĩnh vực thừa kế cũng như tạo cơ sở pháp lý cơ bản cho việc giải quyết những tranh chấp phát sinh từ quan hệ thừa kế. Hiện nay, ở nước ta tuy đã có Bộ luật dân sự (BLDS) và những quy định về thừa kế đã chiếm số lượng điều luật đáng kể nhưng việc áp dụng những quy định này trong thực tiễn cũng như trong việc giải quyết những tranh chấp về thừa kế., vẫn tồn tại không ít khó khăn, vướng mác. Hàng năm có hàng ngàn vụ án kiện về thừa kế mà tòa án nhân dân các cấp phải giải quyết nhưng pháp luật về thừa kế và những quy định pháp luật khác liên quan đến thừa kế chưa thật sự đồng bộ và thống nhất, vì thế nhiều vụ tranh chấp thừa kế đã phải xét xử nhiều lần mà tính thuyết phục không cao. Nhiều bản án, quyết định của Tòa án vẫn bị coi là chưa "thấu tình đạt ly".
Từ thực trạng này, việc nghiên cứu vấn dé "Thừa kế theo pháp luật của công dan Việt Nam từ năm 1945 đến nay" là đáp ứng được yêu cầu về tính cấp thiết trong lý luận và trong thực tiên thi hành, áp dụng pháp luật. Ngoài ra, trong một chừng mực nhất định, cũng từ việc nghiên cứu vấn dé này nhằm làm sáng tỏ thêm vấn đề về 6 hiệu lực điều chỉnh cũng như về việc hoàn thiện các quy phạm pháp luật về thừa kế ở nước ta. Việc nghiên cứu vấn dé "Thừa kế theo pháp luật cua công dan Việt Nam từ năm 1945 đến nay" nhằm làm rõ loại hình thừa kế di sản tuân theo các nguyên tac, điều kiện, trình tự và thủ tục do pháp luật quy định mà không phụ thuộc vào sự định đoạt ý chí của người có tài sản để lại. Đó chính là việc vừa hệ thống hóa các quy phạm pháp luật thừa kế Việt Nam theo quá trình hình thành và phát triển từ năm 1945 đến nay, vừa phân tích và đánh giá hiệu quả điều chỉnh của chế định pháp luật này qua các thời kỳ phát triển của xã hội Việt Nam, từ đó một mat góp phan hoàn chỉnh lý luận khoa học đối với chê dinh pháp luật quan trọng nay, mặt khác, giải quyết tốt vấn đề lý luận cũng giúp cho việc thi hành, áp dụng cũng như hoàn thiện các quy định về thừa kế theo pháp luật, nâng cao hiệu quả điều chỉnh của chúng.
Việc nghiên cứu vấn đề này được xác định trong phạm vi các quy phạm pháp luật Việt Nam về thừa kế theo pháp luật và thừa kế nói chung từ năm 1945 đến nay. Trong nội dung cuốn sách không đề cập và giải quyết vấn đề thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài. Việc nghiên cứu vấn dé thừa kế theo pháp luật cua công dán Việt Nam từ năm 1945 đến nay liên quan đến chế định pháp luật dân sự quan trong mang đậm ban chất giai cấp và có tác động đến chế độ kinh tế - xã hội, đồng thời có liên quan đến một giai đoạn lịch sử dài và có nhiều biến đổi hơn 50 năm qua, do đó việc tiếp cận nghiên cứu vấn đề đặt ra phải dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lénin với phép biện chứng lịch sử và biện chứng duy vật gan với thực tiễn Việt Nam trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối của Đảng về Nhà nước và pháp luật. Vấn dé: "Thừa kế theo pháp luát cua công dán Việt Nam từ năm 1945 đến nay" được nghiên cứu có hệ thống nhằm giải quyết những yêu cầu cơ bản sau đây: - Xây dựng và hoàn thiện các khái niệm như: Thừa kế, quan hệ pháp luật thừa kế, quyền thừa kế, thừa kế theo pháp luật.
nhằm minh chứng tính đặc thù của thừa kế nói chung và thừa kế theo pháp luật nói riêng, từ đó góp phần vào việc hoàn thiện hơn khoa học luật trong lĩnh vực thừa kế nói riêng và trong lĩnh vực dân sự nói chung; - Hệ thống hóa những quy định thừa kế theo pháp luật về từng vấn đề lớn cụ thể qua các giai đoạn lịch sử để phân tích và đưa ra những nhận định làm sáng tỏ quá trình hình thành và phát triển pháp luật thừa kế nói chung và thừa kế theo pháp luật nói riêng ở nước ta từ năm 1945 đến nay; - Phân tích, làm sáng tỏ quyền thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ năm 1945 đến nay được củng cố, mở rộng và bảo vệ trong mối liên hệ hữu cơ với quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta qua mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ lịch sử nhất định, từ đó xác định được tầm quan trọng của chế định pháp luật này trong hệ thống pháp luật dân sự nước ta; Từ lý luận và phân tích hiệu quả điều chỉnh các quy định thừa kế theo pháp luật trong thực tiên, có phát hiện những quy định thiếu tính khái quát, tính đồng bộ, toàn diện đang tồn tại, kể cả một số quy định trong BLDS; đưa ra những kiến nghị cụ thể về việc sửa đổi, bổ sung và một số vấn đề khác chưa được quy định cần được bổ sung trong BLDS cho phù hợp. có hiệu lực cao và lâu dài trong đời sống xã hội. Hà Nội, tháng 4 năm 2004 TÁC GIÁ THỪA KẾ THEO PHÁP LUAT CUA CÔNG DAN VIỆT NAM TỪNÄM 1945 ĐẾN NAY PHẦN THỨNHẤT THỪA KẾ VÀ NHỮNG NGUYÊN TẮC PHÁP LUẬT THỪA KẾ Ở VIỆT NAM 1. THỪA KẾ VÀ QUYỀN THỪA KẾ 1.
Thừa kế Thừa kế đi sản theo quan hệ pháp luật dân sự chính là sự chuyển địch tài sản và quyền sở hữu tài sản của cá nhân người đã chết cho cá nhân, tổ chức có quyền hưởng thừa kế; người thừa kế trở thành chủ sở hữu của tài sản được hướng theo di chúc hoặc theo pháp luật (đối với đất đai là thừa kế quyền sử dung). Cho dù tài sản do người chết để lại thuộc về cá nhân hay tổ chức được hưởng thừa kế. thì nó vẫn tồn tại chung cho xã hội, vì khi tài sản này lại được sử dụng, khai thác hợp lý cũng mang lại hiệu quả kinh tế không chỉ đối với người được hưởng thừa kế mà còn có lợi chung cho toàn xã hội. Thừa kế là một quan hệ xã hội có mầm mống và xuất hiện từ thời sơ khai của xã hội loài người.
Cũng chính từ thời kỳ sơ khai đó, sở hữu và thừa kế đã xuất hiện như mot tất yếu khách quan và mang tính chất là một phạm trù kinh tế, giữa chúng có mối liên quan ràng buộc, qua lại với nhau. Ngay từ thời kỳ đầu của chế độ cộng sản nguyên thủy, chế độ thị tộc, bộ lạc đã hình thành và tài sản có được thuộc 9 THỪA KẾ VÀ NHỮNG NGUYÊN TAC PHÁP LUẬT THỪA KẾ Ở VIỆT NAM về quyền chung của thị tộc, bộ lạc thì thừa kế cũng đã manh nha hình thành theo tập tục. Trong giai đoạn đầu của chế độ thị toc, bộ lạc, vai trò của người phụ nữ có tam quan trọng đáng kể; địa vị chủ đạo của người phụ nữ trong thị tộc, bộ lạc chi phối mọi vấn đề về kinh tế, xã hội. Chế độ thị tộc, bộ lạc theo mẫu hệ đã tạo ra tiền đề cho việc thừa kế tài sản của các con và những người thân thuộc trong thị tộc, bộ lạc của người mẹ.Angghen đã nhận xét: "Theo chế độ mẫu quyền, nghĩa là chừng nào mà huyết tộc chỉ kể về bên me và theo tập tục thừa kế nguyên thủy trong thị tộc mới được thừa kế những người trong thị tộc chết.
Tài sản phải để lại trong thị tộc, nay trong thực tiễn có lẽ người ta van trao cho những người cùng huyết tộc với người me" “” Sự kế thừa tài sản trong thị tộc, bộ lạc theo chế độ mẫu hệ đã đặt nền móng ban đầu cho sự hình thành và phản ánh tính tất yếu của việc thừa kế tài sản theo huyết thống.