Chương 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CHÈO, NHÂN VẬT NỮ LỆCH TRONG KỊCH BẢN CHÈO, KHÁI QUÁT VỀ VẤN ĐỀ NỮ QUYỀN 1. Giới thiệu chung về chèo 1. Chèo – nguồn gốc, tên gọi, đặc trưng Danh xưng chèo cổ tức là để phân biệt với chèo mới. Chèo cổ trong ý nghĩa đích thực của nó gắn liền với môi trường sinh hoạt văn hóa dân gian, từ sáng tác đến biểu diễn hầu như đều do người bình dân đảm nhiệm.
Sau này trong một giai đoạn phát triển mới, chèo mới có sự góp mặt của những ông đồ, ông khóa sinh ra từ nhân dân tham gia soạn tích. Khi đem lên sân khấu trình diễn, tích chèo lại được các nghệ sĩ dân gian sáng tạo một cách linh hoạt. Chèo cổ chưa hề biết đến phông màn bài trí, mà nó hết sức mộc mạc, dân dã, thô sơ. Trong khi đó, chèo mới gần như đoạn tuyệt với tự do ứng diễn.
Sân khấu bốn mặt xưa được thay bằng sân khấu ba mặt, rồi một mặt và có sự hỗ trợ của đạo cụ, hóa trang, âm thanh, ánh sáng. Do lưu hành trong diễn xướng dân gian nên tác phẩm chèo cổ tồn tại rất nhiều kịch bản. Còn kịch bản chèo mới được cố định ngay từ lúc ban đầu. Tác giả kịch bản chịu trách nhiệm về kịch bản văn học của mình, đạo diễn dàn dựng và diễn viên tuân thủ một cách nghiêm ngặt, ít khi có hiện tượng tùy cơ ứng biến.
Vì thế, dù có lưu diễn ở nhiều nơi thì kịch bản chèo mới cơ bản không thay đổi. Nhiều nhà nghiên cứu về chèo đã dụng công tìm hiểu nguồn gốc của chèo. Điều thu hút sự quan tâm đầu tiên là về tên gọi. Đã có nhiều giả thiết được đặt ra, đáng chú ý là quan điểm của Nguyễn Thúc Khiêm, quan điểm của Đặng Văn Lung và Nguyễn Hữu Thu.
Trên báo Nam Phong năm 1929, Nguyễn Thúc Khiêm cho rằng chèo là bởi chữ trào nói chệch ra, mà trào có nghĩa là cười. Gọi là hát chèo nghĩa là diễn các sự tích làm bật lên tiếng cười làm vui để mà xem cho thỏa thích, để dạy người ta răn chừa. Với giả thiết này, tính hài hước và tiếng cười trong chèo được nhấn mạnh, được cho là yếu tố nổi bật nhất và được ghi dấu lại trong tên gọi. 11 Song thực tế, nhiều câu chuyện mà chèo cổ biểu diễn đem đến cho người xem nhiều cảm xúc, trong đó cảm xúc xót xa nhiều hơn là bật cười.
Tiếng cười trong chèo chỉ là một phần, mang tính ứng diễn cao, chuyển tải thông điệp lạc quan cho người lao động. Vậy nên, quan điểm này của Nguyễn Thúc Khiêm chưa tìm được sự đồng tình từ nhiều người quan tâm đến chèo. Đặng Văn Lung và Nguyễn Hữu Thu trong bài Thêm một giả thiết về nguồn gốc của chèo [33] lại cho rằng Chèo đề chỉ một hình thức sân khấu cổ truyền, xuất phát từ chữ chèo gắn với động tác lao động chèo thuyền trên sông nước, ở vùng đất sớm phát triển nghề trồng lúa nước, sớm sản sinh ra công cụ quan trọng: con thuyền. Chữ chèo là một động từ chỉ động tác gạt nước bằng mái làm cho thuyền di chuyển.
Đó là hoạt động gắn với sinh hoạt và tín ngưỡng phong tục lâu đời của người Việt. Đồng thời, theo quan niệm cổ, thế giới của người sống và người chết ngăn cách nhau bởi một con sông. Khi tiễn người chết về thế giới bên kia, người xưa thường làm động tác chèo thuyền có kèm theo lời hát để đưa người chết qua sông. Những điệu hát đó người ta cũng gọi chung là chèo.
Đây là cơ sở để chèo có tên gọi như ngày nay. Đến nay hai quan niệm trên vẫn tồn tại song song và cả hai giả thuyết trên đều chưa có những căn cứ xác đáng để khẳng định sự đúng đắn của mình. Vì thế, tên gọi của chèo vẫn là một vấn đề mở ngỏ. Nói về nguồn gốc của chèo, cũng có nhiều nhóm ý kiến khác nhau.
Nhóm thứ nhất cho rằng, chèo là loại hình nghệ thuật có nguồn gốc ngoại lai. Cụ thể là, khẳng định chèo hình thành trên cơ sở của những điệu múa, điệu hát của người Lào. Có ý kiến lại cho rằng chèo bắt nguồn từ khúc Chiêm thành âm. Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan thì nhấn mạnh hát chèo từ hát tuồng mà ra, còn hát tuồng thì du nhập từ Trung Quốc.
Ông khẳng định khi thấy các vở tuồng dùng hoàn toàn sự tích Trung Quốc và nhiều chữ Hán thì những nho sĩ ở nông thôn sáng tác những vở mà lời hát lấy ngay một phần ở tục ngữ, ca dao, còn nội dung thì dùng toàn sự tích Việt Nam. Nhóm thứ hai thì cho rằng chèo có nguồn gốc từ tế lễ, tôn giáo. Nó có thể ra đời từ thời nhà Trần với hình thức hát đưa ma, gắn với động tác chèo thuyền giả để đưa 12 người chết qua sông về thế giới bên kia. Cũng có thể chèo ra đời từ hình thức hát phục vụ cho các buổi tế lễ ở làng xã.
Nhóm thứ ba lại có quan điểm chèo có nguồn gốc từ lao động, hình thành từ quá trình lao động lâu dài của người dân nông nghiệp lúa nước. Thực tế có những quan niệm về tên gọi và nguồn gốc của chèo không đồng nhất, nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng chèo là loại hình sân khấu nảy sinh từ nền ca, vũ nhạc dân tộc và những sinh hoạt văn hóa dân gian. Gánh hát chèo thời xưa thường có khoảng mười người, diễn viên chèo là những người lao động bình thường. Đối với họ diễn chèo không phải là công việc chính.
Bằng tài năng và niềm say mê nghệ thuật, vào những ngày nông nhàn, họ lại tham gia gánh chèo, đi các làng để biểu diễn. Đặc điểm diễn xuất của chèo cổ có những điểm đáng lưu ý như sau: Thứ nhất, là tính cộng cảm: giữa người diễn và người xem có mối quan hệ chặt chẽ về mặt giao lưu tình cảm trong quá trình diễn xuất. Nghĩa là họ hiểu nhau, thông cảm với nhau, trao đổi ý kiến, đối đáp bình luận về tính cách nhân vật. Tiêu biểu cho đặc điểm này là dàn đế tranh luận trò chuyện với nhân vật.
Thứ hai, là tính thời sự mang ý nghĩa ẩn dụ. Những câu chuyện và nhân vật mang tính thời sự thường có tên cụ thể như Xúy Vân giả dại, Thị Màu ghẹo tiểu.Buổi đầu, đó là những lớp trò ngắn gọn. Sau đó, con người ở thời sau, hoặc ở địa phương thêm bớt các chi tiết, tình huống và con người rút từ các trò trình nghề vào làm cho lớp trò đầy lên và dần dần trở thành tích. Thứ ba, là sáng tạo theo chu trình mở.
Người đầu tiên làm nên một lớp trò, người sau thêm bớt, sửa đổi tạo nên những chồng lớp mới đem lại cho các vở chèo tính hoàn chỉnh. Nhưng ở những kịch bản chèo cổ dù được chỉnh lý hoặc cải biên thì không thể bỏ qua được những trích đoạn như: Thị Mầu ghẹo tiểu (trong Quan Âm Thị Kính), Xúy Vân giả dại (trong Kim Nham), Đào Huế đánh ghen (trong Chu Mãi Thần). 13 Thứ tư, là không thể xếp từng vở vào một thể tài (bi, hài, chính kịch) được. Bởi vở nào cũng đủ bảy mùi tình cảm: vui, giận, yêu, ghét, buồn, lo, sợ (hỉ, nộ, ái, ố, ưu, tư, khủng).
Hình thức tổ chức biểu diễn của chèo có những đặc điểm nổi bật: địa điểm biểu diễn không cố định. Chỉ cần đó là nơi thuận lợi cho người xem là có thể dựng một sân khấu chèo. Sân khấu chèo không cầu kỳ trong cách bài trí. Trung tâm là chiếc chiếu, ở giữa có một chiếc hòm làm đạo cụ, hai bên là chỗ ngồi của các nhạc công và những diễn viên chờ ra vai, xung quanh là khán giả.
Khán giả và diễn viên chèo rất gần gũi và thân thuộc. Trong vở diễn khán giả có thể tham gia trực tiếp bằng hình thức tiếng đế. Chèo là loại hình nghệ thuật gắn liền với đời sống và sinh hoạt của người lao động. Vì thế, chèo có sự kết tinh những tinh hoa văn hóa của nhiều loại hình văn nghệ dân gian.
Chèo vốn mang tính tổng hợp một cách tự nhiên. Với sân khấu chèo có sự kết hợp của văn học, âm nhạc, hội họa, múa.Trước hết để có được một vở chèo hoàn chỉnh phải có kịch bản chèo. Hầu như các kịch bản chèo cổ đều lấy từ tích truyện từ truyện Nôm hoặc những câu chuyện dân gian. Từ cốt truyện ấy những ông đồ, ông khóa đã hình thành nên phần lời thơ cơ bản cho vở chèo.
Trong đó, những câu ca dao, dân ca quen thuộc với người dân được vận dụng sáng tạo. Khi đưa lên sân khấu, phần lời thơ được trình bày một cách biến hóa. Tùy nội dung và mục đích của từng đoạn trò, diễn viên có thể dùng cách nói lối hay điệu hát. Thêm vào lời hát có sự hỗ trợ của âm nhạc tạo nên làn điệu đặc trưng của chèo.
Kèm theo nhạc người biểu diễn chèo còn thực hiện những động tác múa uyển chuyển, và có cả sự hỗ trợ của đạo cụ như chiếc quạt. Kịch bản chèo thường sử dụng những tích truyện trong dân gian để làm cốt truyện. Trong tích truyện này có nhiều tình tiết có cả sự thay đổi về không gian. Trong khi đó chèo lại thường được biểu diễn ở sân đình, cửa chùa với sân khấu hẹp và đơn giản, đạo cụ không nhiều.
Để giúp người xem được hiểu đầy đủ nội dung câu chuyện, chèo sử dụng nghệ thuật ước lệ. Tính ước lệ thể hiện rõ trong bối cảnh, đạo cụ, động tác của diễn viên, nhất là ở yếu tố không gian và thời gian. Vẫn một 14 chiếu chèo mà tùy theo từng vở diễn, từng cảnh diễn có thể trở thành không gian sân đình, không gian cửa chùa, trong dinh quan.Một chiếc hòm đựng đồ của gánh chèo được đặt giữa sân khấu có thể trở thành chiếc bàn, chiếc giường, chiếc ghế nghỉ chân. Một chiếc quạt trong tay người diễn viên có thể xòe ra thành quyển sách, chiếc gương soi, khép lại thành cái bút, ngon roi.Trong tích truyện thời gian có thể dịch chuyển, thậm chí câu chuyện về cuộc đời nhân vật có thể kéo dài đến mười mấy năm chỉ thông qua một câu nói của nhân vật.
Một động tác múa cùng lời hát thích hợp là người xem có thể hiểu nhân vật đang chèo thuyền, cưỡi ngựa, khâu vá.dù không hề có một phông cảnh hay đạo cụ nào thực sự liên quan đến những hành động ấy. Trong khi diễn chèo, những tình tiết trong cốt truyện thường được lựa chọn kỹ càng và chỉ những tình tiết nào quan trọng mới được đưa lên thể hiện được tư tưởng, chủ đề của vở diễn mới được lựa chọn đưa lên sân khấu.