Chương 1. Những van dé lý luận về rủi ro pháp lý và pháp luật về rủi ro pháp lý trong tổ chức, quản lý công ty cổ phan. Thực trạng pháp luật về rủi ro pháp lý trong tô chức, quản lý công ty cô phan Chương 3. Yêu câu và một sô kiên nghị nhăm giảm thiêu các rủi ro pháp lý trong tô chức, quan lý công ty cổ phan.
NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE RỦI RO PHAP LÝ VÀ PHAP LUAT VE RỦI RO PHÁP LÝ TRONG TO CHỨC, QUAN LY CONG TY CO PHAN 1. Khái quát về rủi ro pháp lý trong tổ chức, quan lý công ty cỗ phan 1. Nhận diện tổ chức, quản lý công ty cỗ phan 1. Khái niệm, đặc điểm của công ty cổ phan a.
Khai niệm Công ty cổ phan (sau đây gọi tắt là CTCP) là một loại hình doanh nghiệp phổ biến trên thế giới. Dù tồn tại ở quốc gia nào trên thé giới thì ngoài những đặc điểm chung, CTCP vẫn luôn mang những nét đặc thù phản ánh điều kiện cụ thé của quốc gia đó. Ở những nước theo hệ thống pháp luật Chau Âu lục địa (Civil Law), CTCP có quy chế pháp lý riêng và được phân biệt rõ ràng với loại hình công ty đối vốn khác là Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH). Ví dụ: theo quy định của pháp luật Cộng hòa Pháp, CTCP được gọi là công ty vô danh, phải có ít nhất bảy cô đông, vốn điều lệ của công ty được chia thành các cổ phan với mệnh giá thống nhất, cổ đông được quyền tự do chuyển nhượng cô phần”.
Những nước theo hệ thống pháp luật Anh Mỹ (Common Law) lại không phân chia công ty đối vốn thành các loại khác nhau một cách rõ ràng, và vì vậy thường không có quy chế pháp lý riêng cho loại hình công ty cổ phần”. Tuy nhiên, ở các nước này van tôn tại những công ty có tính chất pháp lý tương tự như CTCP trong hệ thống pháp luật lục địa. Ví dụ, công ty công hữu hạn ở Anh với vốn điều lệ được chia thành các cô phan, các cô phần có thê được tự do chuyên nhượng nếu Điều lệ không có quy định ? Đồng Ngọc Ba (2000), Công ty cổ phan trong nén kinh tế thị trường, Luận văn thạc sĩ luật học, trường Dai học Luật Hà Nội, tr.7 3 Đồng Ngọc Ba (2000), Công ty cổ phần trong nên kinh tế thị trường, Luận văn thạc sĩ luật học, trường Đại học Luật Hà Nội, tr. Trong pháp luật một số nước khác, khái niệm CTCP được quy định rõ ràng, cụ thể.
Ví dụ, BLDS 1994 Cộng hòa liên bang Nga tại Điều 90 quy định: “Công ty cô phần là một công ty mà vốn điều lệ được chia thành một số lượng xác định cỗ phần, những người tham gia công ty không chịu trách nhiệm trước các nghĩa vụ của công ty mà chỉ chịu các rủi ro liên quan đến hoạt động của công ty trong phạm vi giá trị những cô phần mà họ sở hữu”. Ở Việt Nam, quan niệm về CTCP được ghi nhận cụ thể lần đầu tiên trong Luật Công ty năm 1990 (LCT 1990), theo đó CTCP “. là doanh nghiệp trong đó các thành viên cùng góp vốn, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu lễ tương ứng với phần vốn góp và chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn của mình góp vào công ty”. Đến Luật Doanh nghiệp (LDN) năm 1999 (Điều 51) cũng như LDN 2005 (Điều 77) và LDN 2014 thì lại không đưa ra một định nghĩa khái quát về CTCP mà chỉ liệt kê những đặc điểm của nó.
Theo đó, CTCP là một loại hình doanh nghiệp, có những nét riêng biệt bao gồm: vốn điều lệ được chia làm nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; người chủ sở hữu cổ phan là cổ đông, họ là thành viên công ty, chịu trách nhiệm về các khoản nợ, các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty và công ty được phát hành chứng khoán để huy động vốn. Như vậy, tựu chung lại có thé hiểu một cách thống nhất về khái niệm CTCP đó là một loại hình công ty đối vốn, trong đó vốn điều lệ được chia làm nhiều phan bang nhau gọi là cỗ phan; người sở hữu các cô phan đó gọi là cổ đông của công ty; các cô đông có thê sở hữu một hay nhiêu cô phân và chịu * Liang Yu Chi (201 6), Dia vị pháp lý cua công ty cổ phan dưới góc độ so sánh pháp luật doanh nghiệp hiện hành của Trung Quốc và Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 10 trách nhiệm trong phạm vi cô phần mà họ nắm giữ; đồng thời, công ty có quyền phát hành chứng khoán dé huy động vốn. Đặc điểm Công ty cô phần có những đặc điểm cơ bản dựa vào đó chúng ta phân biệt với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh sau đây: - Về thành viên công ty: Trong suốt quá trình hoạt động ít nhất phải có 3 thành viên tham gia CTCP.
Là loại công ty đặc trưng cho công ty đối vốn, cho nên có sự liên kết của nhiều thành viên và vì vậy, việc quy định số thành viên tôi thiêu phải có đã trở thành thông lệ quốc tế trong may trăm năm tôn tại của công ty cô phần. Ở hầu hết các nước đều có quy định số thành viên tối thiểu của CTCP. - Về vốn: Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Giá trị mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phần và được phan ánh trong cô phiếu.
Một cô phiếu có thé phản ánh mệnh giá của một hoặc nhiều cổ phan. Việc góp vốn vào công ty được thực hiện bang cách mua cô phan, mỗi cô đông có thé mua nhiều cé phan. Luật không hạn chế mỗi thành viên được mua tôi đa bao nhiêu phần trăm vốn điều lệ nhưng các thành viên có thể thỏa thuận trong điều lệ giới hạn tôi đa số cô phần mà một thành viên có thể mua nhằm chống lại việc một thành viên nào đó có thể nắm quyền kiểm soát công ty. - Về tinh tự do chuyển nhượng phan vốn góp: Phan vốn góp (cỗ phan) của các thành viên được thể hiện dưới hình thức cỗ phiếu.
Các cô phiếu do công ty phát hành là một loại hàng hóa. Người có cổ phiếu có thé tự do chuyền nhượng theo quy định của pháp luật. - Về chế độ trách nhiệm: Công ty cô phan chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty băng tài sản của công ty. Các cô đông chịu trách nhiệm 11 về các khoản nợ và các nghĩa vụ tai sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty (tức là đến hết giá trị cổ phần mà họ sở hữu)”.
- Về quyền phát hành chứng khoán: Trong quá trình hoạt động, công ty cô phần có quyền phát hành chứng khoán (như cổ phiếu, trái phiếu) ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán để huy động vốn. Điều này thê hiện khả năng huy động vốn lớn của CTCP. - Về tư cách pháp lý: CTCP là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân. Công ty có tư cách pháp nhân kế từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh.
Tổ chức, quan bp công ty cổ phan a. Khái niệm tô chức quản lý công ty cô phần Xét về mặt ngữ nghĩa, khái niệm “tổ chức, quan lý công ty cổ phan được cấu thành bởi hai thành tố đó là “tổ chức, quản lý” và “công ty cô phần”. Theo như phân tích ở trên, luận văn đã trình bay và làm rõ nội hàm của khái niệm CTCP. Bởi vậy, để có thé hiểu rõ được khái niệm “tổ chức, quản ly công ty cô phần”, trong mục này luận văn sẽ tập trung làm rõ nội hàm và ngoại dién của khái niệm “tô chức, quản lí”.
Theo từ điển Tiếng Việt thì “tổ chức” hiểu theo nghĩa của một động từ có nghĩa là (i) “hành động sắp xếp, bồ trí cho thành một chỉnh thé, có một cau tạo, một cau trúc và những chức năng chung nhất định”; (ii) làm những gi cần thiết dé tiễn hành một hoạt động nào đó nhằm có được hiệu quả tốt nhất”. Còn “quan lý” là (i) “trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định”; (ii) “tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cau nhất định”. Theo tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), “Quản lý công ty là một hệ 5 Trường Dai học Luật Ha Nội (2008), Giáo trình Luật Thương mai (tap 1), Nxb Công an nhân dân, Ha Nội, tr.vn/dict/vn_vn/T%EI%BB%95_ch%E1%BB%A9c, truy cập ngày 15/5/2017. 12 thống các cơ chế, các hành vi quản lý.
Cơ chế này xác định việc phân chia các quyền và nghĩa vụ giữa cô đông, hội đồng quản trị, các chức danh quản lý và những người có lợi ích liên quan, quy định trình tự ban hành các quyết định kinh doanh. Bằng cách này, công ty tạo ra một cơ chế xác lập mục tiêu hoạt động, tạo ra phương tiện thực thi và giám sát việc thực hiện các mục tiêu đó””. Theo ngân hang thé giới (WB), quản lý công ty được coi là một hệ thống kết hợp các yếu tố luật pháp, thể chế và các hệ thống quản lý của công ty. Nó cho phép công ty có thé thu hút được các nguôn tài chính và nhân lực, hoạt động một cách hiệu quả, tạo ra các gia trị kinh tế lâu dài cho thành viên trong khi vẫn tôn trong các quyên lợi của những người có quyền, lợi ích liên quan và của xã hdi®.
Theo ngân hành phát triển Châu Á (ADB), quản lý công ty bao gồm một hệ thống các quy chế xác định rõ mối quan hệ giữa các cổ đông, các chức danh quản lý, các chủ nợ, Chính phủ và những người có lợi ích liên quan khác cũng như hệ thống các cơ chế đảm bảo thực hiện các quy chế trên”. Như vậy, khái niệm “tô chức, quản li” sẽ có thê được hiểu theo hai nghĩa. Theo nghĩa hẹp thì tổ chức quan lí là cách hiểu thứ (i); còn cách hiểu thứ (11) là theo nghĩa rộng. 2 Ghép nôi nội hàm của các khái niệm trên với khái niệm công ty cô ^ phân, chúng ta sẽ có hai cách hiêu vê khái niệm “tô chức, quản lí công ty cô phần”.
Cu thé: Nguyễn Thị Lan Hương, “Một số so sánh về Công ty cô phan theo Luật Công ty Nhat Bản và Luật Doanh nghiệp Việt Nam”, tap chí Luật hoc (25), Tr. ® Nguyễn Thị Lan Hương, “Một số so sánh về Công ty cé phần theo Luật Công ty Nhật Ban và Luật Doanh nghiệp Việt Nam”, tap chí Luật học (25), Tr. ?