CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Phương thức biểu đạt và các kiểu loại văn bản 1. Phương thức biểu đạt Như chúng ta đã biết, để tạo lập được một văn bản cần phải sử dụng phối hợp và linh hoạt nhiều thao tác khác nhau, trong đó có một thao tác được coi là thao tác chính, chủ đạo xuyên suốt toàn bộ văn bản đó. Mỗi thao tác chính đó sẽ tạo nên một phương thức biểu đạt.
Có thể hiểu phương thức biểu đạt là “cách thức phản ánh và tái hiện lại đời sống (thiên nhiên, xã hội, con người) của người viết, người nói. Mỗi phương thức biểu đạt phù hợp với một mục đích, ý đồ phản ánh, tái hiện nhất định và được thực hiện bởi một thao tác chính nào đó” [26; tr. Chẳng hạn, khi muốn giúp người đọc hình dung ra được đặc điểm, tính chất nổi bật của một sự vật, sự việc, làm cho sự vật, sự việc, ấy như hiện lên trước mắt người đọc, thì người viết phải dùng động tác miêu tả. Như vậy, phương thức miêu tả chính là phương thức dùng thao tác miêu tả là chủ yếu để phản ánh và tái hiện đời sống.
Tương tự như vậy, khi muốn biểu hiện tư tưởng, tình cảm, cảm xúc, thái độ và sự đánh giá của mình đối với đối tượng được nói tới thì người viết phải tìm ra cách thức để thể hiện, bày tỏ chúng. Phương thức này được gọi là phương thức biểu cảm. Bên cạnh đó, chúng ta còn có các phương thức biểu đạt khác như tự sự, thuyết minh, nghị luận, điều hành,. Căn cứ vào mục đích giao tiếp, phương thức biểu đạt được phân chia thành các phương thức cơ bản: phương thức miêu tả, phương thức tự sự, phương thức biểu cảm, phương thức lập luận, phương thức thuyết minh và phương thức điều hành.
Có thể hiểu rằng khi muốn giúp người đọc hình dung ra được đặc điểm, tính chất nổi bật của một sự việc sự vật, phong cảnh, con người… làm cho đối tượng nói tới như hiện lên trước mắt người đọc… thì người viết phải dùng động tác miêu tả. Như thế phương thức miêu tả chính là phương thức dùng hành động miêu tả để phản ánh và tái hiện 12 lại đời sống. Tương tự như vậy, khi muốn biểu hiện tư tưởng tình cảm, cảm xúc, thái độ và sự đánh giá của mình đối với đối tượng được nói tới thì người viết trực tiếp thể hiện, bày tỏ tình cảm tư tưởng, đó là phương thức biểu cảm. Khi muốn làm sáng tỏ một vấn đề nhằm thuyết phục người đọc, người nghe về một tư tưởng, quan điểm nào đó, người viết cần dùng lý lẽ, dẫn chứng để giải thích chứng minh, phân tích, bình luận… , người ta gọi đó là phương thức lập luận.
Khi muốn tái hiện một câu chuyện xảy ra nhằm giải thích sự việc, tìm hiểu con người, nêu vấn đề bày tỏ thái độ khen chê thì người viết phải trình bày một chuỗi sự việc liên quan đến nhau, sự việc này dẫn đến sự việc kia, cuối cùng có một kết thúc. Đó chính là phương thức tự sự. Khi muốn làm rõ đặc điểm cơ bản của đối tượng, cung cấp tri thức về các hiện tượng và sự vật trong tự nhiên và xã hội thì người nói và viết phải trình bày, giới thiệu, giải thích… một cách khách quan về đối tượng đó. Người ta gọi đây là phương thức thuyết minh.
Cuối cùng, phương thức điều hành là phương thức dùng các động tác hướng dẫn, chỉ đạo, sai khiến, ra lệnh, điều khiển, đề đạt, kiến nghị… nhằm truyền đạt những nội dung và yêu cầu nào đó từ cấp trên xuống hoặc bày tỏ những ý kiến, nguyện vọng của cá nhân hay tập thể tới các cơ quan và người có quyền hạn để giải quyết. Trong chương trình và SGK gọi là văn bản hành chính - công vụ. Phân loại văn bản dựa vào phương thức biểu đạt chính Căn cứ vào các phương thức biểu đạt vừa nêu, người ta chia ra các kiểu văn bản như: văn bản tự sự, văn bản miêu tả, văn bản biểu cảm, văn bản thuyết minh, văn bản nghị luận, văn bản điều hành (hay còn gọi là văn bản hành chính – công vụ, văn bản ứng dụng,. Văn bản tự sự được tạo nên bởi phương thức tự sự.
Đây là phương thức biểu đạt dùng để tái hiện một câu chuyện bằng cách trình bày một chuỗi sự việc liên quan đến nhau, sự việc này dẫn đến sự việc kia, cuối cùng có một kết thúc nhất định nhằm giải 13 thích sự việc, tìm hiểu con người, nêu vấn đề và bày tỏ thái độ khen, chê của người viết. Đặc trưng cơ bản nhất của văn bản tự sự thể hiện qua sự kiện (bao gồm các chi tiết, tình tiết, cốt truyện), nhân vật và việc trần thuật (bao gồm việc kể và miêu tả các hoàn cảnh, hành động, dáng nét, biến cố,. của nhân vật). Các kiểu văn bản khác không có và cũng không cần đến các yếu tố này.
Khác với văn bản tự sự, văn bản miêu tả lại được tạo nên từ phương thức miêu tả. Đó là phương thức biểu đạt dùng các chi tiết, hình ảnh giúp người đọc hình dung ra đặc điểm nổi bật của một sự vật, sự việc, con người, phong cảnh,. làm cho những đối tượng được nói tới như hiện lên trước mắt người đọc. Như vậy, đặc điểm nổi bật nhất của văn miêu tả khác với sự miêu tả trong các loại hình nghệ thuật khác chính là ở chỗ nó dùng ngôn từ làm chất liệu, phương tiện miêu tả.
Và khi sử dụng ngôn ngữ để miêu tả, người ta có thể bằng óc quan sát, trí tưởng tượng của mình mà nhào nặn, sáng tạo lại đối tượng; “thổi” vào các sự vật, hiện tượng,. cái linh hồn sống động của con người cũng như của thế giới muôn màu, muôn vẻ. Song, cũng chính đặc trưng này lại đòi hỏi người viết muốn viết được một bài văn miêu tả không phải cứ thấy gì tả nấy mà trước hết phải biết quan sát, trải nghiệm đời sống thực tế; phải có óc liên tưởng, tưởng tượng và đồng thời phải có một năng lực ngôn ngữ dồi dào, phong phú. Có như vậy, khi miêu tả mới có thể lựa chọn được những hình ảnh, chi tiết đặc sắc; mới xây dựng được những ý tưởng độc đáo; mới tạo lập được một mạch văn mới lạ cho bài viết của mình.
“Văn biểu cảm là một phương thức biểu đạt bằng ngôn ngữ” [31; tr. Đó là sự bày tỏ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp những tư tưởng, tình cảm, cảm xúc, thái độ và sự đánh giá của người viết đối với đối tượng được nói tới. Văn biểu cảm tồn tại dưới nhiều dạng thức khác nhau (dạng nói hoặc dạng viết, trực tiếp hoặc gián tiếp), bao trùm cả lĩnh vực nghệ thuật và lĩnh vực đời sống thường ngày. Tuy nhiên, văn biểu cảm không phải là một hiện tượng luôn được phân biệt rạch ròi.
Nó ít khi tồn tại đơn lẻ mà thường có mặt bên cạnh các kiểu văn bản khác và chúng có quan hệ xen 14 lồng vào nhau. Điều quan trọng đối với việc làm văn biểu cảm trong nhà trường là chủ thể biểu cảm (người viết) đóng vai trò quyết định đối với điểm nhìn của bài văn. Do đó, để bài văn biểu cảm đạt hiệu quả biểu cảm cao thì cảm xúc, suy nghĩ của người viết phải chân thành, sâu sắc. Người viết cần phải có vốn sống phong phú, vốn ngôn ngữ dồi dào, linh hoạt, tinh tế,.
Đặc biệt, sự thể hiện cá tính của người viết trong cách cảm, cách diễn đạt là yêu cầu không thể thiếu đối với một bài văn biểu cảm. Mỗi cảm xúc, mỗi suy nghĩ của người viết không thể là sự lặp lại, “bắt chước” người khác mà phải tỏ rõ khả năng suy nghĩ riêng, chủ kiến riêng và cách hành văn riêng của người viết. Cùng với ba kiểu văn bản trên, có một kiểu văn bản được sử dụng rất rộng rãi trong cuộc sống, luôn gắn với nhu cầu giao tiếp đa dạng của con người, nhu cầu tìm hiểu toàn bộ thế giới tự nhiên và xã hội xung quanh chúng ta nhưng gần đây mới được đưa vào giảng dạy chính thức trong nhà trường phổ thông, đó là kiểu văn bản thuyết minh. Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản “được soạn thảo với mục đích trình bày, giới thiệu tính chất, cấu tạo, công dụng, lí do phát sinh, qui luật phát triển, biến hoá của sự vật, nhằm cung cấp thông tin về các sự vật, hiện tượng trong cuộc sống tự nhiên và xã hội, hướng dẫn cho con người tìm hiểu và sử dụng chúng” [31; tr.
Nói một cách khác, văn thuyết minh là kiểu văn bản dùng để trình bày, giới thiệu, phổ biến hoặc giải thích nhằm làm rõ những đặc điểm cơ bản của một đối tượng, cung cấp tri thức về các hiện tượng, sự vật trong tự nhiên và xã hội. Trong các kiểu văn bản được đưa vào giảng dạy trong nhà trường, văn nghị luận là một trong những kiểu văn bản quan trọng, có vai trò rèn luyện tư duy và năng lực biểu đạt những vấn đề có ý nghĩa trong thực tế đời sống cho HS. Đây là kiểu văn bản “nhằm phát biểu tư tưởng, tình cảm, thái độ, quan điểm của người viết một cách trực tiếp về văn học hoặc chính trị, đạo đức, lối sống,. nhưng lại được trình bày bằng một thứ ngôn ngữ trong sáng, hùng hồn, với những lập luận chặt chẽ, mạch lạc, giàu sức thuyết phục.
Đặc trưng cơ bản của kiểu văn bản này là nội dung 15 và cấu trúc của nó được hình thành từ những yếu tố cơ bản như vấn đề nghị luận (còn gọi là luận đề), luận điểm, luận cứ và lập luận (còn gọi là luận chứng). Trong đó, luận đề là vấn đề bao trùm, cần được đem ra để bàn luận, để bảo vệ, để chứng minh trong toàn bộ bài viết. Luận điểm là những ý kiến, quan điểm chính được nêu ra trong bài văn nghị luận để làm sáng tỏ cho luận đề. Các luận điểm phải được sắp xếp, trình bày theo một hệ thông hợp lí, đầy đủ và được triển khai bằng những lí lẽ, dẫn chứng hợp lí để làm sáng tỏ vấn đề mà luận điểm đã đặt ra.
Ngoài năm kiểu văn bản tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh và nghị luận đã nói ở trên còn có một kiểu văn bản nữa không thể không kể đến bởi sự cần thiết và tính thông dụng của nó trong đời sống xã hội mà rất cần rèn luyện cho HS, đó là kiểu văn bản điều hành (hay còn gọi là văn bản hành chính - công vụ, văn bản ứng dụng, .