đặt vấn đề nghiên cứu về biểu tượng, trí nhớ, liên tưởng, tưởng tượng, không thể không nghiên cứu vai trò, sức tác động của cảm xúc trong việc hướng tới mục đích, nhiệm vụ đề ra, đặc biệt đối với tâm lý học sáng tạo nghệ thuật và quá trình đọc hiểu, cảm thụ VB truyện trong nhà trường. Mối quan hệ giữa liên tưởng và tưởng tượng: Liên tưởng có được nhờ cảm xúc và trí nhớ; còn tưởng tượng là kết quả của các quá trình cảm giác, quá trình tri giác, đặc biệt là quá trình hình thành biểu tượng trong đó có giai đoạn huy động trí nhớ và liên tưởng. Có thể tìm hiểu mối quan hệ giữa liên tưởng và tưởng tượng từ một định nghĩa về tưởng tượng: "Tưởng tượng là sự hoạt động của nhận thức mà trong quá trình nhận thức ấy con người tạo ra những biểu tượng, tình huống trong ý nghĩ, tư tưởng, đồng thời dựa vào những hình tượng còn giữ lại trong ký ức từ kinh nghiệm cảm giác trước kia và có đổi mới, biến đổi các thứ ấy " [21]. Như thế, liên tưởng vừa là một hiện tượng tâm lý độc lập, đồng thời cũng có thể xem nó là một "giai đoạn", một "thao tác" trong quá trình tưởng tượng.
Vì vậy, liên tưởng trở thành một điều kiện vận hành của tưởng tượng: nhờ có liên tưởng, những hình ảnh mà tưởng tượng tạo ra được hoàn thiện và phong phú, sinh động; và ngược lại, nếu khả năng liên tưởng kém, những hình ảnh mà tưởng tượng tạo ra sẽ hạn chế và phiến diện. Mặt khác, không phải tất cả các liên tưởng đều được huy động, mà nó được "sàng lọc, lựa chọn sao cho phù hợp nhất với nhiệm vụ đề ra", do những 11 tưởng tượng về kết quả chế định. Liên tưởng, tưởng tượng trong đọc hiểu văn bản truyện 1. Đọc hiểu văn bản Đọc “ là biến hình thức chữ viết của VB thành hình thức âm thành để người nghe hiểu được những điều mà tác giả nói qua chữ viết” [3] là hoạt động diễn ra nhằm giúp con người tiếp cận với các loại VB.
Hiểu là nhu cầu của con người diễn ra đồng thời với hoạt động đọc, nhằm tư duy,nhận thức nội dung, ý nghĩa của VB, từ đó khám phá cuộc sống và thế giới được tái hiện trong VB; nắm vững tri thức nhân loại đã tích lũy qua thời gian để phát triển cá nhân và xã hội. Đọc và hiểu là hai hoạt động gắn bó chặt chẽ, đồng thời nhằm giúp con người tiếp nhận tri thức của đời sống. Quan niệm thứ nhất, đọc hiểu là khả năng nhận biết, thấu hiểu, giải thích, sáng tạo, trao đổi, tính toán và sử dụng những tài liệu viết hoặc in kết hợp với những bối cảnh khác nhau. Kĩ năng đọc hiểu (literacy) đòi hỏi sự học hỏi liên tục cho phép một cá nhân đạt được mục đích của mình, phát triển kiến thức, tiềm năng và tham gia một cách đầy đủ trong xã hội rộng lớn.
Quan niệm thứ hai, đọc - hiểu là sự hiểu biết, sử dụng và phản hồi lại trước một VB viết, nhằm đạt được mục đích phát triển tri thức và tiềm năng, cũng như việc tham gia của một ai đó vào xã hội (Dẫn theo Đỗ Ngọc Thống) [19]. Quan niệm thứ ba, theo OECD, đọc hiểu được hiểu là giải mã (decoding), hiểu thấu (comprehension) tư liệu, bao hàm cả việc hiểu (understanding), sử dụng (using) và phản hồi (reflecting) về những thông tin với những mục đích khác nhau. Kỹ thuật đọc hiểu yêu cầu đọc hiểu từ ngữ trong ngữ cảnh, đọc hiểu tính mạch lạc của VB cũng như nội dung VB như một thông điệp. Trên cơ sở xem xét những quan điểm trên, trong phạm vi đề tài, chúng tôi quan niệm đọc hiểu như sau: Đọc hiểu là hoạt động cơ bản của con người nhằm chiếm lĩnh văn hóa.
Đọc hiểu là quá trình kết hợp việc đọc với việc phát triển năng lực giải thích, phân tích, tóm tắt và biện luận theo đúng logic và ý nghĩa. Trong VB truyện, đọc hiểu đòi hỏi học sinh phải nhận 12 thức được các yếu tố sau: nắm vững nội dung của VB, hiểu mối quan hệ ý nghĩa được tác giả tổ chức và xây dựng, nhận ra ý đồ và mục đích của VB truyện, hiểu tư tưởng mà tác giả muốn truyền đạt, đánh giá giá trị đặc sắc của các yếu tố nghệ thuật, hiểu ý nghĩa của từ ngữ được sử dụng trong cấu trúc VB, nhận biết thể loại của VB và hiểu các hình tượng nghệ thuật. Từ đó, đọc hiểu là hoạt động giải mã và hiểu các tầng ý nghĩa của VB thông qua khả năng tiếp nhận của học sinh. Đọc hiểu là cách tiếp cận VB, hiểu được ý nghĩa rõ ràng và ẩn chứa, các phương pháp nghệ thuật, hiểu các thông điệp tư tưởng và tình cảm của người viết, cũng như đánh giá giá trị độc đáo của các hình tượng nghệ thuật.
Đọc hiểu là quá trình phân tích và tiếp nhận lời nói, trong đó con người nhận biết và hiểu nghĩa của lời nói trong VB. Điều này đòi hỏi ta nhận thức chất liệu lời nói được biểu hiện dưới dạng từ, câu, và VB, đồng thời tìm hiểu ý nghĩa của lời nói, nhận thức cách thể hiện ý nghĩa đó và vai trò của nó đối với cá nhân và xã hội [21]. Đọc hiểu là sự kết hợp chặt chẽ giữa khả năng đọc và khả năng giải thích, phân tích, tóm tắt, và biện luận đúng sai về logic của VB. Quá trình này giúp người đọc nắm bắt được nội dung, ý nghĩa, và giá trị của VB.
Đồng thời, đọc hiểu còn ảnh hưởng và hình thành thái độ, tư tưởng, tình cảm, và cảm xúc của người đọc đối với hiện thực được đề cập trong VB. Ngoài ra, nó cũng khơi gợi sự quyết định và hành động của người đọc trong thực tế sau khi đọc. Vì vậy có thể hiểu, năng lực đọc hiểu là khả năng nhận biết, thấu hiểu, giải thích, sáng tạo, trao đổi, tính toán và sử dụng tài liệu viết hoặc kết hợp với những bối cảnh khác nhau; nó đòi hỏi sự học hỏi liên tục, cho phép một cá nhân đạt được mục đích của mình, phát triển kiến thức, tiềm năng và tham gia đầy đủ trong một xã hội rộng lớn. VB truyện Theo quan điểm truyền thống, có nhiều phương thức khác nhau mà hoạt động giao tiếp có thể sử dụng.
Tuy nhiên, chỉ có những sản phẩm giao 13 tiếp bằng ngôn ngữ viết dưới dạng văn tự (như chữ viết tay, in ấn, chạm khắc,.) mới được xem là VB. Quan điểm này chủ yếu coi lời nói thông thường không thuộc loại VB, bởi vì lời nói thường bay bổng, không được chuẩn bị trước, thiếu tính văn chương và không tuân theo các tiêu chuẩn nhất định.R Galperin cho rằng: “VB không phải là lời nói miệng, luôn luôn có tính cách ngẫu hứng, thiếu tổ chức, không nhất quán. VB – đó là VB truyện của quá trình sáng tạo lời, mang tính cách hoàn chỉnh, được khách quan hóa dưới dạng tài liệu viết, được trau chuốt văn chương.có một hướng đích nhất định và một mục tiêu thực dụng” [7]. Theo quan niệm của lí thuyết Dụng học (hoặc Ngữ dụng học): “VB là một chỉnh thể hoàn chỉnh về hình thức, trọn vẹn về nội dung, thống nhất về cấu trúc và độc lập về giao tiếp, là một thể biến dạng viết liên tục của ngôn bản thực hiện một số đích nhất định, nhằm vào những người tiếp nhận nhất định, thường là không có mặt khi VB được sản sinh” [5].
Quan niệm của PISA về VB cho kiểm tra đọc hiểu quốc tế được mở rộng nhiều hơn so với truyền thống. PISA cho rằng VB đọc hiểu là VB đa phương thức. “VB đọc hiểu bao gồm tất cả những gì liên quan đến VB ngôn từ, sử dụng các hình thức biểu tượng: viết tay, bản in, dạng điện tử, chúng cũng bao gồm các sản phẩm thị giác như biểu đồ, tranh ảnh, bản đồ, bảng biểu, đồ thị và tranh hải chước châm biếm kèm theo ngôn ngữ viết” [19]. Tóm lại, luận văn đi theo cách tiếp cận về VB như sau: VB là sản phẩm của quá trình tạo lập với mục đích nhất định nhằm hướng vào đối được tiếp nhận cụ thể.
VB được tạo lập bằng đơn phương thức (VB in), cũng có thể tạo thành bằng đa phương thức (chữ viết, hình ảnh, âm thanh. Đặc trưng của VB truyện Theo Từ điển Thuật ngữ Văn học: truyện là tác phẩm thuộc loại hình tự sử cho hai thành phần chủ yếu là cốt truyện và nhân vật. Thủ pháp nghệ thuật chính là kể. Truyện thừa nhận vai trò rộng rãi của hư cấu và tưởng tượng [17].
14 Truyện là loại văn tự sự, kể chuyện, trình bày sự việc.là sự việc được tổ chức một cách nghệ thuật trong văn học. Truyện có những đặc trưng cơ bản: tính khách quan trong sự phản ánh; cốt truyện được tổ chức một cách nghệ thuật; nhân vật được miêu tả chi tiết, sống động gắn với hoàn cảnh; phạm vi miêu tả không bị hạn chế về không gian và thời gian; ngôn ngữ linh hoạt, gần với ngôn ngữ đời sống. Theo Trần Thanh Đạm, đặc trưng VB truyện bao gồm ba thành tố chính: cốt truyện, nhân vật, lời kể. Dạy học sinh đọc hiểu VB truyện phải chú ý thoả mãn 3 yêu cầu: i) Giúp HS nắm vững được sự phát triển của tình tiết trong VB truyện, nghĩa là nắm bắt được nội dung truyện; ii) HS được hươngs dẫn cảm thụ được sự sâu sắc, đánh giá được chính xác về nhân vật trong VB truyện; iii) Làm cho HS cảm nhận và hiểu được dụng ý trong lời kể của tác giả (hay của người kể chuyện) [20].
Theo tác giả Nguyễn Thái Hòa, VB truyện dưới góc nhìn ngôn ngữ, là diễn ngôn tự sự: “Những chuyện được kể lại như vậy trong hội thoại làm thành diễn ngôn tự sự, bên cạnh những diễn ngôn đối thoại, diễn ngôn miêu tả và lập lập trong cuộc sống hàng ngày”. Tác giả rút ra nhận định: “Một diễn ngôn tự sự xét về phương diễn kết cấu logic sẽ có các thành tố cơ bản: Ai (người phát ngôn)? Ở đâu? Lúc nào (ngữ cảnh)? Cái gì xảy ra (nội dung)? Kết quả (kết thúc)” [20] Trong luận văn này thì VB truyện được diễn giải theo quan niệm: VB truyện là VB tự sự được sáng tác theo lối hư cấu. Mỗi VB truyện là một sáng tạo nghệ thuật ngôn từ độc đáo của người viết. Tuy nhiên, xét chung về thể loại, VB truyện thường có những dấu hiệu đặc trung, nổi bật như sau: có cốt truyện, nhân vật, người kể chuyện, lời trần thuật.
Riêng với truyện ngắn, còn có tình huống truyện.