phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm 3 chƣơng sau đây: Chƣơng 1: Tổng quan về NQTM và hợp đồng NQTM. Chƣơng 2: Quy định của pháp luật Hoa Kỳ và pháp luật Việt Nam về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng NQTM Chƣơng 3: Thực tiễn hoạt động NQTM tại Việt Nam và phƣơng hƣớng hoàn thiện Pháp luật Việt Nam về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng NQTM. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI VÀ HỢP ĐỒNG NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về nhƣợng quyền thƣơng mại 1.
Khái niệm về nhượng quyền thương mại 1. Định nghĩa Với tƣ cách là một hình thức kinh doanh phổ biến và hiệu quả trên thế giới, nhiều định nghĩa về NQTM đã đƣợc đƣa ra nhằm giải thích bản chất của hình thức kinh doanh này và nhằm hƣớng dẫn các đối tƣợng quan tâm, đặc biệt là các chủ thể kinh doanh có thể thực hiện hoạt động kinh doanh dƣới hình thức này đạt hiệu quả cao nhất. Hiểu một cách ngắn gọn nhất thì ―NQTM là cho phép ai đó chính thức đƣợc bán hàng hóa hay sử dụng dịch vụ của một công ty ở một khu vực cụ thể nào đó‖ (Từ điển Anh Việt của Viện Ngôn ngữ). NQTM cũng có thể đƣợc hiểu ―là một đặc quyền đƣợc trao cho một ngƣời để phân phối hay bán sản phẩm của chủ thƣơng hiệu‖ (theo từ điển Webster của Anh).
Tuy nhiên, những định nghĩa này chỉ đơn giản đƣa ra một cái nhìn dễ hiểu nhất về NQTM mà chƣa thể hiện đƣợc hết nội dung và bản chất của NQTM. Một số học giả cũng đƣa ra định nghĩa về NQTM nhƣ Awalan Abdul Aziz: ―NQTM là một phƣơng thức tiếp thị và phân phối sản phẩm hay dịch vụ dựa trên mối quan hệ giữa hai đối tác: một bên đƣợc gọi là Bên nhƣợng quyền (Bên bán NQTM) và một bên gọi là Bên nhận quyền (Bên mua NQTM). Bên mua NQTM đƣợc cấp phép sử dụng thƣơng hiệu của bên bán quyền thƣơng mại để kinh doanh tại một địa điểm hay khu vực nhất định, trong một khoản thời gian nhất định‖. Theo giáo sƣ Andrew Terry, ―NQTM là một hệ thống huy động đƣợc sự sáng tạo, năng động và ngày càng trở thành một phƣơng thức kinh doanh phổ biến đối với các doanh nghiệp đang tồn tại và mới hình thành.
Trong hệ thống NQTM, bên nhƣợng quyền phải phát triển đƣợc những khái niệm kinh doanh đã thành công và đã đƣợc công nhận và xây dựng xung 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quanh những ngƣời nhận quyền hệ thống đã đƣợc thừa nhận, những li-xăng để ngƣời nhận quyền sử dụng khái niệm và hệ thống của họ theo một phƣơng thức kiểm soát tại một địa điểm xác định và vào một thời điểm nhất định tại cơ sở kinh doanh của ngƣời nhận quyền hoặc tại những cơ sở khác‖ [14]. Tuy nhiên, để hiểu đầy đủ hơn về bản chất và nội dung của NQTM thông qua định nghĩa NQTM, chúng ta có thể xem xét đến định nghĩa về NQTM của một số tổ chức và một số nƣớc sau: Theo Hiệp hội NQTM Pháp, ―NQTM là một phƣơng thức hợp tác giữa một bên là một doanh nghiệp (bên chuyển nhƣợng) và một bên khác là một hay nhiều doanh nghiệp (bên nhận quyền) để khai thác một đối tƣợng của NQTM do ngƣời chuyển nhƣợng triển khai. Đối tƣợng chuyển nhƣợng gồm 3 yếu tố: quyền sở hữu và quyền sử dụng các dấu hiệu tập hợp khách hàng (biển hiệu, nhãn hiệu, tên thƣơng mại, logo…), việc sử dụng kinh nghiệm hay bí quyết kinh doanh, một tập hợp các sản phẩm và/hoặc dịch vụ và/hoặc công nghệ‖ [35] Uỷ ban (hay còn gọi là hội đồng) Thương mại Liên bang Hoa Kỳ đƣa ra định nghĩa nhƣ sau: ―Một hợp đồng NQTM là hợp đồng theo đó Bên giao: hỗ trợ đáng kể cho Bên nhận trong việc điều hành doanh nghiệp hoặc kiểm soát chặt chẽ phƣơng pháp điều hành doanh nghiệp của Bên nhận; li-xăng (cấp quyền sử dụng) nhãn hiệu cho Bên nhận để phân phối sản phẩm hoặc dịch vụ theo nhãn hiệu hàng hóa của Bên giao và yêu cầu Bên nhận thanh toán cho Bên giao một khoản phí tối thiểu‖ [33]. Định nghĩa này cũng phần nào thể hiện nghĩa vụ của các bên, đặc biệt là nghĩa vụ của Bên giao với việc nhấn mạnh tới việc Bên giao quyền hỗ trợ và kiểm soát bên nhận quyền trong hoạt động kinh doanh.
Liên minh Châu Âu EU định nghĩa ―NQTM là một tập hợp những quyền sở hữu công nghiệp và sở hữu trí tuệ liên quan tới nhãn hiệu hàng hóa, tên thƣơng mại, biển hiệu cửa hàng, giải pháp hữu ích, kiểu dáng, bản quyền 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tác giả, bí quyết, hoặc sáng chế sẽ đƣợc khai thác để bán sản phẩm, hoặc cung cấp dịch vụ tới ngƣời sử dụng cuối cùng"[35]. Định nghĩa của liên minh Châu Âu nhấn mạnh quyền của bên nhận quyền khi sử dụng tập hợp các quyền sở hữu trí tuệ nhƣ thƣơng hiệu, hệ thống, bí quyết kinh doanh của bên nhƣợng quyền. Khái niệm NQTM của Mêhicô: Luật sở hữu công nghiệp của Mêhicô có hiệu lực từ 6/1991 quy định: "NQTM tồn tại khi với một li-xăng cấp quyền sử dụng một thƣơng hiệu nhất định, có sự chuyển giao kiến thức công nghệ hoặc hỗ trợ kỹ thuật để một ngƣời sản xuất, chế tạo, hoặc bán sản phẩm, hoặc cung cấp dịch vụ đồng bộ với các phƣơng pháp vận hành, các hoạt động thƣơng mại, hoặc hành chính đã đƣợc chủ thƣơng hiệu thiết lập, với chất lƣợng, danh tiếng, hình ảnh của sản phẩm, hoặc dịch vụ đã tạo dựng đƣợc dƣới thƣơng hiệu đó‖ [35]. Định nghĩa này đề cập tới lợi ích của việc NQTM và nhấn mạnh tới việc chuyển giao ―kiến thức công nghệ‖ để bán sản phẩm, dịch vụ đồng bộ.
Chƣơng 54, Bộ luật dân sự Nga định nghĩa bản chất pháp lý của sự NQTM nhƣ sau: "Theo Hợp đồng NQTM, một bên (bên có quyền) phải cấp cho bên kia (bên sử dụng) với một khoản thù lao, theo một thời hạn, hay không thời hạn, quyền đƣợc sử dụng trong các hoạt động kinh doanh của bên sử dụng một tập hợp các quyền độc quyền của bên có quyền bao gồm, quyền đối với dấu hiệu, chỉ dẫn thƣơng mại, quyền đối với bí mật kinh doanh, và các quyền độc quyền theo hợp đồng đối với các đối tƣợng khác nhƣ nhãn hiệu hàng hoá , nhãn hiệu dịch vụ. Nhƣ vậy, tƣơng tự nhƣ định nghĩa của EU, định nghĩa của Nga nhấn mạnh tới việc Bên giao chuyển giao một số quyền sở hữu trí tuệ độc quyền cho Bên nhận để đổi lấy những khoản phí nhất định. Australia định nghĩa NQTM nhƣ sau: ―NQTM là một thỏa thuận một bên (bên nhƣợng quyền) cấp cho bên khác (bên nhận quyền) quyền thực hiện 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hoạt động đề nghị giao kết hợp đồng, cung cấp hoặc phân phối hàng hóa hoặc dịch vụ trong lãnh thổ Australia theo hệ thống hoặc kế hoạch kinh doanh mà cơ bản đƣợc xác định kiểm soát hoặc đề xuất bởi bên nhƣợng quyền, theo đó: Việc tiến hành hoạt động kinh doanh đƣợc chủ yếu gắn liền với thƣơng hiệu, hoạt động quảng cáo hoặc biểu tƣợng thƣơng mại của bên nhƣợng quyền. Trƣớc khi bắt đầu kinh doanh và trong quá trình kinh doanh, bên nhận quyền phải thanh toán cho bên nhƣợng quyền một khoản phí NQTM‖.
Australia đƣa ra định nghĩa khá toàn diện về NQTM, ngoài việc chỉ ra các đặc điểm đặc trƣng khái quát lên bản chất của NQTM còn chỉ ra đƣợc một quy trình khá chi tiết và đầy đủ của hoạt động NQTM. Theo quan điểm của nhóm nghiêm cứu trường Đại học Ngoại thương Hà Nội, NQTM gọi là chuyển nhƣợng quyền sử dụng thƣơng hiệu ―là một hoạt động thƣơng mại trong đó, bên chuyển nhƣợng cho phép bên nhận chuyển nhƣợng quyền độc lập phân phối hàng hóa hoặc dịch vụ cùng với quyền đƣợc sử dụng một tập hợp các dấu hiệu liên kết khách hàng gắn liền với hệ thống kinh doanh nhƣ bí quyết kinh doanh, nhãn hiệu hàng hóa và dịch vụ trong một khoảng thời gian và phạm vi địa lý nhất định, theo phƣơng thức và hệ thống kinh doanh đƣợc bên chuyển nhƣợng xây dựng và với sự trợ giúp đáng kể, thƣờng xuyên của bên chuyển nhƣợng‖ [4]. Theo Hiệp hội nhượng quyền kinh doanh Quốc tế (hiệp hội lớn nhất nƣớc Mỹ và thế giới), NQTM đƣợc định nghĩa nhƣ sau: "NQTM là mối quan hệ theo hợp đồng, giữa Bên giao và Bên nhận quyền, theo đó Bên giao đề xuất hoặc phải duy trì sự quan tâm liên tục tới doanh nghiệp của Bên nhận trên các khía cạnh nhƣ: bí quyết kinh doanh, đào tạo nhân viên; Bên nhận hoạt động dƣới nhãn hiệu hàng hóa, phƣơng thức, phƣơng pháp kinh doanh do Bên giao sở hữu hoặc kiểm soát; và Bên nhận đang, hoặc sẽ tiến hành đầu tƣ đáng kể vốn vào doanh nghiệp bằng các nguồn lực của mình". Theo định nghĩa này, vai trò đầu tƣ vốn và điều hành doanh nghiệp của Bên nhận quyền 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com kinh doanh đƣợc nhấn mạnh hơn so với trách nhiệm của bên giao quyền.
Định nghĩa này phần nào thể hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên tham gia hợp đồng. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, khái niệm NQTM đƣợc đề cập trong Luật thƣơng mại 2005 (Điều 284.8): ―NQTM là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây: (i) Việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền; (ii) Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh”. Nhƣ vậy, qua các định nghĩa về NQTM nêu trên, mặc dù quan điểm của các quốc gia về NQTM khác nhau nhƣng hầu hết đều ít nhiều thể hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng. Cụ thể: - Bên nhận quyền phân phối sản phẩm, cung ứng dịch vụ dƣới nhãn hiệu hàng hóa, các đối tƣợng quyền sở hữu trí tuệ và theo quy trình kỹ thuật do bên nhƣợng quyền xây dựng và sở hữu.
- Bên nhận quyền phải trả một khoản phí và chấp nhận các điều kiện do bên nhƣợng quyền quy định (các quy định về tiêu chuẩn hàng hoá, giá sản phẩm, cách bài trí cửa hàng, cung cách phục vụ của nhân viên. Đặc điểm cơ bản: 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.