Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về quyền tự do kinh doanh Chương 2: Những điểm mới nổi bật thể hiện quyền tự do kinh doanh trong Luật Doanh nghiệp năm 2014 Kết luận 4 CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUYỀN TỰ DO KINH DOANH 1.1 Khái niệm, đặc điểm kinh doanh 1.1 Khái niệm kinh doanh Kinh doanh là một nội dung quan trọng cấu thành và gắn liền với QTDKD. Vì vậy, khi nghiên cứu về QTDKD thì trước hết chúng ta cần phải nghiên cứu về kinh doanh. Nhân loại đã trải qua các hệ thống kinh tế theo tiến trình lịch sử như sau: nền kinh tế tự cung tự cấp, nền kinh tế hàng hóa, nền kinh tế thị trường (KTTT).
Hoạt động kinh doanh chỉ xuất hiện khi nền kinh tế hàng hóa ra đời, gắn liền với quan hệ hàng hóa – tiền tệ và quy luật giá trị2. Giai đoạn đầu, kinh doanh được hiểu với nghĩa hẹp, chỉ đơn thuần là các hoạt động lưu thông, trao đổi, mua bán hàng hóa. Khi nền kinh tế hàng hóa phát triển đến trình độ cao trở thành nền KTTT thì kinh doanh mới thực sự phát triển và được hiểu theo nghĩa rộng hơn với đầy đủ sự đa dạng và phong phú của nó như hiện nay3. Ở Việt Nam dưới thời kỳ tập trung bao cấp, kinh doanh là một khái niệm rất xa lạ với nền kinh tế đất nước vì lúc này chỉ có các tổ chức kinh tế xã hội chủ nghĩa như các doanh nghiệp quốc doanh, hợp tác xã mới được quyền kinh doanh, còn các thành phần kinh tế (TPKT) khác thì bị hạn chế và cấm đoán kinh doanh.
Tuy nhiên, từ sau năm 1986, kinh doanh đã dần dần trở nên quen thuộc hơn với người dân Việt Nam khi mà Đảng và Nhà nước chủ trương vận hàng nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, TPKT khác nhau. Hiện nay, kinh doanh đã trở thành một nhu cầu tất yếu của nền KTTT đang ngày càng phát triển và hoàn thiện đồng thời khẳng định được vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế Việt Nam trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới. Ở góc độ đời thường, kinh doanh được hiểu là “tổ chức buôn bán để thu lợi 4 lãi”. Có thể thấy định nghĩa này đã đồng nhất kinh doanh với hoạt động buôn bán.
Bên cạnh đó, kinh doanh còn được định nghĩa là “tổ chức việc sản xuất, buôn bán, dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi”5. Theo đó, định nghĩa về kinh doanh được mở rộng hơn so với định nghĩa trên khi cho rằng kinh doanh bao gồm hoạt động sản xuất và hoạt động buôn bán. Như vậy, mặc dù nội hàm của kinh doanh được diễn giải qua hai định nghĩa trên có sự rộng, hẹp khác nhau nhưng chúng đều giống nhau khi cho rằng hoạt động kinh doanh là nhằm mục đích sinh lợi. 2 Bùi Ngọc Cường (2004), Một số vấn đề về quyền tự do kinh doanh trong pháp luật kinh tế hiện hành ở Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, tr.
3 Lê Thị Ngọc Cẩm (2006), Quyền tự do kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luận văn cử nhân luật, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, tr. 4 Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam (1998), Đại từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, tr. 5 Viện ngôn ngữ (2005), Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng, tr.
5 Dưới góc độ kinh tế, qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy có rất nhiều định nghĩa đa dạng và khác nhau về kinh doanh. Ở đây, tác giả trích dẫn hai định nghĩa về kinh doanh trong lĩnh vực kinh tế sau: Một là, “Kinh doanh là hoạt động của tổ chức, cá nhân nhằm mục đích đạt lợi nhuận cao nhất qua một loạt các hoạt động như quản trị, tiếp thị, tài chính, kế toán, sản xuất”6; Hai là, “Kinh doanh là phương thức hoạt động kinh tế trong nền kinh tế hàng hoá, gồm tổng thể những phương pháp, hình thức và phương tiện mà chủ thể kinh tế sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh tế của mình (bao gồm quá trình đầu tư, sản xuất, vận tải, thương mại, dịch vụ.) trên cơ sở vận dụng quy luật giá trị và các quy luật khác nhằm đạt mục tiêu vốn sinh lời cao nhất”7. Dù cách tiếp cận khác nhau, nhưng các định nghĩa về kinh doanh trong lĩnh vực kinh tế trên đều thống nhất rằng kinh doanh là việc thực hiện các hoạt động kinh tế của các tổ chức, cá nhân vì mục tiêu cuối cùng là đạt được lợi nhuận cao nhất (tối đa hóa lợi nhuận). Dưới góc độ pháp lý, cụ thể hơn là trong pháp luật doanh nghiệp thực định, kinh doanh lần đầu tiên được định nghĩa trong LCT 1990, sau đó được kế thừa trong LDN 1999, LDN 20058 và hiện nay là LDN 2014.
Theo LDN 2014, kinh doanh được định nghĩa như sau: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”9. Về cơ bản, kinh doanh được định nghĩa khá thống nhất và ổn định qua các đạo luật nêu trên với nguyên tắc là tập trung vào hành vi của chủ thể và mục đích cụ thể của hành vi10. Tuy nhiên, so với LCT 1990 và LDN 1999, kinh doanh theo LDN 2005 và LDN 2014 có sự khác biệt cơ bản, đó là kinh doanh phải được thực hiện liên tục. Theo đó, việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư phải “nối tiếp nhau thành một quá trình không bị gián đoạn” 11.
Tính liên tục được bổ sung và nhấn mạnh từ trong LDN 2005 đã thể hiện quan điểm của các nhà làm luật là hoạt động kinh doanh phải mang tính chất thường xuyên, lặp đi lặp lại, ổn định và lâu dài. Rõ ràng, xét trên hai khía cạnh hành vi của chủ thể và mục đích của hành vi, khái niệm kinh doanh theo quy định của pháp luật mở rộng hơn rất nhiều so với khái niệm kinh doanh được hiểu trong đời sống xã hội và lĩnh vực kinh tế. Kinh doanh trong pháp luật doanh nghiệp bao gồm một loạt các hành vi của quá trình đầu 6 “Kinh doanh”, https://vi.org/wiki/Kinh_doanh, truy cập ngày 12/06/2016. 7 Lê Thị Ngọc Cẩm, tlđd (3), tr.
8 Xem: Điều 3 LCT 1990, Điều 3 LDN 1999 và Điều 4 LDN 2005. 9 Xem Điều 4 Khoản 2 LDN 2014. 10 Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2013), Giáo trình pháp luật về chủ thể kinh doanh, Nhà xuất bản Hồng Đức, tr.
11 Viện ngôn ngữ học, tlđd (5), tr. 6 tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ; trong khi đó kinh doanh ở góc độ đời thường chỉ được hiểu là các hoạt động sản xuất, buôn bán (khác biệt về khía cạnh hành vi của chủ thể). Đồng thời, khác với các định nghĩa về kinh doanh trong lĩnh vực kinh tế nêu trên, kinh doanh dưới góc độ pháp lý bản chất là các hoạt động không chỉ nhằm mục đích sinh lời hay mục tiêu lợi nhuận mà còn nhằm tạo ra các lợi ích khác ngoài lợi nhuận hoặc nhằm thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội (khác biệt về khía cạnh mục đích của hành vi). Vì lẽ trên mà cụm từ “sinh lợi” đã được các nhà lập pháp sử dụng để làm cho cách hiểu về kinh doanh trong lĩnh vực pháp lý trở nên bao quát và toàn diện hơn.
Trong thực tiễn cũng như pháp luật thương mại thực định đã và đang tồn tại khái niệm “hoạt động thương mại” - một khái niệm rất gần với khái niệm kinh doanh. Hoạt động thương mại là “hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”12. Theo đó, có thể hiểu hoạt động thương mại là các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi bao gồm nhưng không giới hạn các hoạt động sau đây: mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư và xúc tiến thương mại. Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy hoạt động kinh doanh và hoạt động thương mại đều có điểm chung là “nhằm mục đích sinh lợi”.
Chính vì vậy, đã có quan điểm cho rằng hoạt động thương mại cũng là kinh doanh13. Quan điểm này đã đồng nhất kinh doanh với hoạt động thương mại. Thế nhưng, liệu rằng hai khái niệm này có hoàn toàn đồng nhất với nhau hay không hay chúng là hai khái niệm độc lập với nội hàm có sự giao thoa một cách đáng kể đến mức khó có thể phân biệt một cách rõ ràng 14. Cá nhân tác giả cũng đồng ý với quan điểm cho rằng hoạt động thương mại cũng có thể được xem là hoạt động kinh doanh.
Tóm lại, kinh doanh là hoạt động ra đời và phát triển cùng với nền kinh tế hàng hóa. Khái niệm kinh doanh có rất nhiều cách hiểu khác nhau xét trên cả ba góc độ đời thường, kinh tế và pháp luật. Trong phạm vi đề tài này, kinh doanh sẽ được sử dụng như một thuật ngữ pháp lý và được hiểu trên cơ sở các quy định của pháp luật doanh nghiệp thực định. Tiếp cận dưới góc độ pháp lý, khái niệm kinh doanh trong pháp luật doanh nghiệp hiện nay phản ánh ba đặc điểm sau đây: Thứ nhất, kinh doanh là hoạt động mang tính nghề nghiệp và gắn liền với chủ thể nhất định.
Nghĩa là hoạt động kinh doanh phải được các chủ thể thực hiện một cách thường xuyên và không bị gián đoạn về mặt thời gian. Biểu hiện pháp lý rõ nét của đặc điểm này là các quy định của pháp luật về việc yêu cầu hoạt động kinh 12 Xem Điều 3 Khoản 1 Luật Thương mại năm 2005. 13 Phan Huy Hồng và Nguyễn Thanh Tú (2012), “Về mối quan hệ giữa quyền tự do kinh doanh và trật tự công cộng hay các nguyên tắc cơ bản của pháp luật”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 02(68)/2012, tr. 14 Hiện nay, các tài liệu đề cập đến hay phân tích sâu về sự khác biệt hay mối liên hệ giữa hai thuật ngữ pháp lý này là hầu như không có.
Chính vì vậy, việc tìm câu trả lời rõ ràng cho vấn đề này là vô cùng khó khăn và phức tạp. Tuy nhiên, theo tác giả, việc đó cũng không thực sự cần thiết vì suy cho cùng nó không có ý nghĩa nhiều về mặt lý luận và thực tiễn. 7 doanh phải diễn ra liên tục. Về nguyên tắc, pháp luật bắt buộc các chủ thể kinh doanh (CTKD), nhất là các doanh nghiệp phải tiến hành hoạt động kinh doanh một cách liên tục, thường xuyên15.