Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật của sinh viên Lê Hoàng Nam (Khoa Quản trị / Khoa Luật Thương mại, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, năm 2016, dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Đặng Quốc Chương) được thực hiện trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh đổi mới thể chế kinh tế và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu. Việc tham gia đàm phán và ký kết hàng loạt hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), các FTA với EU, EFTA, và Liên minh thuế quan Nga - Belarus - Kazakhstan đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc tương thích hóa khung pháp lý nội địa với các cam kết quốc tế.

Hiến pháp năm 2013 được ban hành đã ghi nhận nguyên tắc hiến định quan trọng: mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà pháp luật không cấm. Sau 10 năm thi hành, Luật Doanh nghiệp năm 2005 bộc lộ nhiều điểm nghẽn và bất cập, không còn phù hợp với tinh thần của Hiến pháp năm 2013 và yêu cầu hội nhập (theo Tờ trình số 1353/TTr-BKHĐT ngày 10/03/2014 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư). Luật Doanh nghiệp năm 2014 được ban hành nhằm mở rộng quyền tự do kinh doanh (QTDKD), giảm thiểu rào cản hành chính và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm:

  1. Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về kinh doanh và quyền tự do kinh doanh của công dân, chủ thể kinh doanh dưới góc độ pháp luật thực định;
  2. Trình bày, phân tích và bình luận các quy định cụ thể của pháp luật doanh nghiệp thực định (trọng tâm là Luật Doanh nghiệp năm 2014) về quyền tự do kinh doanh;
  3. Đánh giá những điểm tiến bộ, nhận diện các vướng mắc, bất cập còn tồn tại trong quy định và thực tiễn áp dụng; từ đó đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, bảo đảm và mở rộng quyền tự do kinh doanh.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý luận cơ bản và hệ thống quy phạm pháp luật thực định về quyền tự do kinh doanh tại Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào Luật Doanh nghiệp năm 2014 cùng các văn bản có liên quan trực tiếp (Luật Đầu tư năm 2014, Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành) xoay quanh ba nội dung cải cách trọng tâm: (i) Quyền của doanh nghiệp đối với con dấu; (ii) Quyền tự do kinh doanh trong ngành, nghề mà pháp luật không cấm; (iii) Quyền tự chủ trong tổ chức và quản lý doanh nghiệp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết, tác giả tiếp cận quyền tự do kinh doanh từ nền tảng quyền con người trong lĩnh vực kinh tế theo định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên Hiệp Quốc (OHCHR) và các công trình lý luận pháp lý tại Việt Nam. Khóa luận phân tích hai phương thức xác định nội hàm quyền tự do kinh doanh: phương thức "chọn - cho" (cho phép làm những gì pháp luật liệt kê) và phương thức "chọn - bỏ" (được làm mọi điều pháp luật không cấm). Nghiên cứu vận dụng nguyên tắc "cân bằng - hợp lý" (gồm tính phù hợp, tính cần thiết và tính cân bằng lợi ích) để xác định giới hạn can thiệp của Nhà nước đối với quyền tự do kinh doanh, đồng thời phân tích sự bãi bỏ học thuyết ultra vires trong quản trị doanh nghiệp hiện đại.

Phương pháp nghiên cứu được áp dụng trong khóa luận gồm:

  • Phương pháp nghiên cứu lịch sử: Sử dụng để khảo sát tiến trình phát triển của pháp luật doanh nghiệp Việt Nam từ Luật Công ty năm 1990, Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990, Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp năm 2005 đến Luật Doanh nghiệp năm 2014;
  • Phương pháp đối chiếu - so sánh: So sánh quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 với các đạo luật doanh nghiệp tiền nhiệm, cũng như đối chiếu với thông lệ quản trị quốc tế (mô hình đơn hội đồng và đa hội đồng);
  • Phương pháp phân tích quy nạp: Phân tích các quy phạm cụ thể điều chỉnh con dấu, ngành nghề đầu tư kinh doanh, cơ cấu tổ chức và người đại diện theo pháp luật để khái quát hóa bản chất đổi mới chính sách pháp lý.

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm:

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam: Hiến pháp năm 1992 và 2013; Luật Doanh nghiệp các năm 1999, 2005, 2014; Luật Đầu tư các năm 2005, 2014; Luật Thương mại năm 2005; Luật Hợp tác xã năm 2012; Bộ luật Hình sự năm 2015; các Nghị định số 39/2007/NĐ-CP, 78/2015/NĐ-CP, 96/2015/NĐ-CP;
  • Dữ liệu thống kê và báo cáo chuyên môn: Tờ trình số 1353/TTr-BKHĐT của Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Báo cáo nghiên cứu Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam năm 2012 của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM); Dự toán ngân sách nhà nước năm 2016 của Bộ Tài chính; số liệu rà soát điều kiện kinh doanh của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI);
  • Tài liệu học thuật: Giáo trình, sách chuyên khảo, bài báo tạp chí chuyên ngành luật và kỷ yếu hội thảo của các học giả như GS.TS. Mai Hồng Quỳ, PGS.TS. Bùi Xuân Hải, PGS.TS. Phan Huy Hồng, PGS.TS. Bùi Ngọc Cường, PGS.TS. Dương Đăng Huệ.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về quyền tự do kinh doanh

Chương này tập trung xây dựng nền tảng lý luận về hoạt động kinh doanh và quyền tự do kinh doanh theo pháp luật thực định. Kinh doanh theo Khoản 2 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014 được xác định là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Khái niệm này thể hiện ba đặc trưng pháp lý: tính nghề nghiệp gắn liền với chủ thể nhất định, tính thị trường và mục đích sinh lợi (rộng hơn mục đích sinh lời đơn thuần vì bao hàm cả các giá trị xã hội, công ích như mô hình doanh nghiệp xã hội).

Về bản chất, quyền tự do kinh doanh được phân tích dưới hai phương diện:

  • Quyền chủ thể (phương diện chủ quan): Thuộc tính tự nhiên vốn có của con người trong hoạt động kinh tế, chỉ trở thành "thực quyền" khi được nhà nước thừa nhận và thể chế hóa;
  • Quyền pháp lý (phương diện khách quan): Tổng thể các quy phạm pháp luật xác định năng lực pháp luật kinh doanh và các bảo đảm thực thi từ phía Nhà nước.

Chủ thể của quyền tự do kinh doanh gồm hai nhóm:

  1. Chủ thể có quyền: Các chủ thể kinh doanh đăng ký hoạt động theo pháp luật, phân chia thành ba nhóm chính gồm: Doanh nghiệp (công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân; bao gồm doanh nghiệp xã hội và doanh nghiệp 100% vốn nhà nước); Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; Hộ kinh doanh (dưới 10 lao động theo Nghị định số 78/2015/NĐ-CP, nếu từ 10 lao động trở lên bắt buộc phải chuyển sang mô hình doanh nghiệp); cùng nhóm cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh theo Nghị định số 39/2007/NĐ-CP;
  2. Chủ thể có nghĩa vụ: Nhà nước với tư cách thiết lập khung khổ pháp lý, bảo vệ quyền và thực thi các biện pháp bảo đảm; với sự định hướng của Đảng Cộng sản Việt Nam và vai trò giám sát, hỗ trợ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Khóa luận khẳng định quyền tự do kinh doanh không phải là quyền tuyệt đối mà mang tính tương đối, đòi hỏi phải vận hành dựa trên ba tiền đề: quyền sở hữu tư liệu sản xuất, sự đa dạng loại hình doanh nghiệp và quyền tự định đoạt trong sản xuất kinh doanh.

Chương 2: Những điểm mới nổi bật thể hiện quyền tự do kinh doanh trong Luật Doanh nghiệp năm 2014

Chương 2 đi sâu phân tích ba nhóm nội dung đổi mới cốt lõi của Luật Doanh nghiệp năm 2014 thể hiện sự mở rộng quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp:

1. Quyền của doanh nghiệp đối với con dấu: Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã chuyển đổi từ cơ chế quản lý con dấu hành chính (công an cấp phép và giữ con dấu) sang cơ chế trao quyền tự chủ hoàn toàn cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp có quyền tự quyết định hình thức, số lượng và nội dung con dấu (thông qua Điều lệ hoặc quyết định của chủ sở hữu/Hội đồng thành viên/Hội đồng quản trị theo Nghị định số 96/2015/NĐ-CP), chỉ phải thực hiện nghĩa vụ thông báo mẫu dấu với cơ quan đăng ký kinh doanh để đăng tải công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp trước khi sử dụng.

2. Quyền tự do kinh doanh trong những ngành, nghề đầu tư kinh doanh: Luật Doanh nghiệp năm 2014 kết hợp cùng Luật Đầu tư năm 2014 đã chuyển đổi căn bản cách tiếp cận quản lý nhà nước từ "chọn - cho" sang "chọn - bỏ", chính thức bãi bỏ học thuyết ultra vires, không ghi ngành nghề kinh doanh trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

Tiêu chí so sánh Khung pháp lý giai đoạn 2005 Khung pháp lý theo Luật Doanh nghiệp & Luật Đầu tư 2014
Ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh 51 ngành, nghề bị cấm Thu hẹp còn 06 ngành, nghề (Điều 6 Luật Đầu tư 2014)
Ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện 386 ngành, nghề (phân tán trong 391 văn bản, hơn 4000 điều kiện kinh doanh) Cắt giảm còn 267 ngành, nghề (giảm 119 ngành, nghề, quy định tập trung tại Danh mục của Luật Đầu tư 2014)
Thẩm quyền ban hành điều kiện kinh doanh Quy định rải rác từ cấp Thông tư, Quyết định của Bộ Chỉ được quy định trong Luật, Pháp lệnh, Nghị định; cấm các Bộ, HĐND, UBND ban hành
Chế tài hình sự về hành vi kinh doanh Tồn tại "Tội kinh doanh trái phép" (BLHS 1999) Bãi bỏ "Tội kinh doanh trái phép" trong BLHS 2015 (sau các vụ việc thực tiễn như quán café Xin Chào, quán phở Bình Tân)

Tác giả cũng chỉ ra tình trạng thực thi còn bất cập khi tính đến thời điểm Luật Đầu tư 2014 có hiệu lực (01/07/2016), Chính phủ mới ban hành được 24/50 Nghị định về điều kiện đầu tư kinh doanh, còn "nợ" 26 Nghị định, dẫn đến quan ngại về tính minh bạch và rào cản hành chính chuyển hóa cơ học từ thông tư lên nghị định.

3. Quyền tự chủ trong tổ chức, quản lý doanh nghiệp:

  • Đối với công ty TNHH: Luật Doanh nghiệp năm 2014 trao quyền cho các bên tự thỏa thuận quy định chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý trong Điều lệ (Điều 78 Khoản 3). Tuy nhiên, luật giới hạn số lượng đại diện theo ủy quyền của chủ sở hữu là tổ chức trong công ty TNHH một thành viên từ 3 đến 7 người (khóa luận đánh giá điểm này là sự can thiệp chưa hợp lý vào quyền ủy quyền dân sự của chủ sở hữu).
  • Đối với công ty cổ phần: Lần đầu tiên pháp luật Việt Nam cho phép công ty cổ phần được lựa chọn giữa hai mô hình quản trị nội bộ:
Mô hình quản trị CTCP Cơ cấu bộ máy bắt buộc Điều kiện áp dụng theo Luật Doanh nghiệp 2014
Mô hình đa hội đồng (Two-tier board) Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Giám đốc/Tổng giám đốc và Ban kiểm soát - Bắt buộc có Ban kiểm soát nếu có từ 11 cổ đông cá nhân trở lên hoặc cổ đông tổ chức sở hữu từ 50% tổng số cổ phần.
- Dưới 11 cổ đông và tổ chức sở hữu dưới 50% cổ phần thì không bắt buộc có Ban kiểm soát.
Mô hình đơn hội đồng (One-tier board) Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc/Tổng giám đốc - Bắt buộc ít nhất 20% số thành viên Hội đồng quản trị là thành viên độc lập.
- Phải thành lập Ban kiểm toán nội bộ trực thuộc Hội đồng quản trị.
  • Đối với người đại diện theo pháp luật (NĐDTPL): Khoản 1 Điều 13 Luật Doanh nghiệp năm 2014 lần đầu tiên đưa ra định nghĩa pháp lý thống nhất về NĐDTPL, đồng thời cho phép công ty TNHH và công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật, chấm dứt tình trạng độc quyền đại diện gây bế tắc trong quản hành doanh nghiệp trước đây.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể gắn liền với hệ thống dữ liệu thực định:

  • Hệ thống hóa các căn cứ lý luận khẳng định quyền tự do kinh doanh là quyền tự nhiên thuộc nhóm quyền con người về kinh tế, được cụ thể hóa bằng phương thức quản lý "chọn - bỏ" theo nguyên tắc cân bằng - hợp lý;
  • Làm rõ bước tiến lập pháp của Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Đầu tư năm 2014 thông qua các con số thực tế: giảm số ngành nghề cấm kinh doanh từ 51 xuống 06 ngành nghề; cắt giảm danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện từ 386 xuống 267 ngành nghề (giảm 119 ngành); xóa bỏ giá trị của các quy định điều kiện kinh doanh ban hành ở cấp thông tư;
  • Phân tích cơ chế trao quyền tự chủ quản trị nội bộ thông qua việc hợp pháp hóa mô hình quản trị đơn hội đồng (yêu cầu tối thiểu 20% thành viên HĐQT độc lập và Ban kiểm toán nội bộ) và cơ chế đa đại diện theo pháp luật;
  • Nhận diện các điểm nghẽn thực tiễn tại thời điểm thi hành luật: việc Chính phủ "nợ" 26/50 Nghị định hướng dẫn điều kiện kinh doanh tại mốc thời gian 01/07/2016; quy định khống chế 3-7 người đại diện theo ủy quyền trong công ty TNHH một thành viên; và sự chưa bao quát trong định nghĩa người đại diện theo pháp luật tại Khoản 1 Điều 13 Luật Doanh nghiệp năm 2014;
  • Đóng góp khoa học: Khóa luận tiếp cận quyền tự do kinh doanh dưới lăng kính đa ngành (kết hợp Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Hiến pháp và pháp luật hình sự), đi sâu phân tích cơ chế quản trị nội bộ và con dấu thay vì chỉ tập trung vào thủ tục gia nhập thị trường như phần lớn các công trình nghiên cứu cùng thời điểm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các quy định của pháp luật thực định đối với loại hình doanh nghiệp (đặc biệt là công ty TNHH và công ty cổ phần), chưa đi sâu phân tích toàn diện quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh khác như hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hay các cá nhân kinh doanh không thuộc diện đăng ký. Đồng thời, do hoàn thành tại thời điểm các nghị định hướng dẫn Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư năm 2014 đang trong quá trình ban hành (mới có 24/50 nghị định), khóa luận chưa thể đánh giá toàn diện tác động thực tiễn lâu dài của hệ thống nghị định này.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tiếp tục theo dõi, đánh giá thực tiễn thi hành toàn bộ 50 nghị định về điều kiện đầu tư kinh doanh sau khi được ban hành đầy đủ; nghiên cứu sâu hơn về cơ chế giải quyết xung đột thẩm quyền giữa nhiều người đại diện theo pháp luật trong doanh nghiệp; và khảo sát sự tương thích của pháp luật doanh nghiệp Việt Nam với các cam kết quốc tế chuyên sâu trong các FTA thế hệ mới.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo giá trị cho:

  • Giảng viên và sinh viên ngành Luật (chuyên ngành Luật Thương mại, Luật Kinh tế, Quản trị - Luật): Cung cấp tài liệu phân tích có hệ thống về sự chuyển biến của pháp luật doanh nghiệp Việt Nam qua các thời kỳ (1990, 1999, 2005, 2014), cấu trúc quản trị công ty TNHH và CTCP, cũng như cơ sở lý luận về quyền con người trong kinh tế;
  • Các nhà nghiên cứu và học viên cao học: Tham khảo phương pháp tiếp cận đối chiếu - so sánh các chế định quản trị công ty (mô hình one-tier vs two-tier board), chế định con dấu và các phân tích pháp lý về ngành nghề kinh doanh có điều kiện;
  • Cộng đồng doanh nghiệp và luật sư thực tế: Hữu ích trong việc soạn thảo Điều lệ công ty, phân định thẩm quyền của người đại diện theo pháp luật, và xác định tính hợp pháp của các điều kiện kinh doanh trong hoạt động đầu tư thương mại.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 có điểm gì khác biệt cơ bản so với Luật Doanh nghiệp năm 1999 và Luật Công ty năm 1990? Theo Khoản 2 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014 (kế thừa từ Luật Doanh nghiệp năm 2005), kinh doanh bắt buộc phải là việc thực hiện "liên tục" một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư. Việc bổ sung yếu tố "liên tục" nhấn mạnh tính nghề nghiệp, thường xuyên, lặp đi lặp lại và ổn định lâu dài của hoạt động kinh doanh, khác với các hành vi thương mại mang tính thời vụ, đơn lẻ.

2. Luật Đầu tư năm 2014 quy định cụ thể bao nhiêu ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh và bao gồm những ngành nghề nào? Điều 6 Luật Đầu tư năm 2014 thu hẹp từ 51 ngành nghề trước đây xuống còn 06 ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh, gồm:

  1. Kinh doanh các chất ma túy (Phụ lục 1);
  2. Kinh doanh các loại hóa chất, khoáng vật (Phụ lục 2);
  3. Kinh doanh mẫu vật các loại thực vật, động vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm Nhóm I có nguồn gốc tự nhiên (Phụ lục 3);
  4. Kinh doanh mại dâm;
  5. Mua, bán người, mô, bộ phận cơ thể người;
  6. Hoạt động kinh doanh liên quan đến sinh sản vô tính trên người.

3. Để áp dụng mô hình quản trị đơn hội đồng (không có Ban kiểm soát), công ty cổ phần phải đáp ứng những điều kiện bắt buộc nào? Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014, công ty cổ phần áp dụng mô hình đơn hội đồng (chỉ gồm Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc/Tổng giám đốc) phải đáp ứng đồng thời hai điều kiện: (i) Ít nhất 20% số thành viên Hội đồng quản trị phải là thành viên độc lập; (ii) Phải thành lập Ban kiểm toán nội bộ trực thuộc Hội đồng quản trị để thực hiện chức năng giám sát.

4. Khóa luận đánh giá như thế nào về quy định giới hạn số lượng người đại diện theo ủy quyền (từ 3 đến 7 người) trong công ty TNHH một thành viên là tổ chức? Tác giả khóa luận cho rằng quy định này làm hạn chế quyền tự do kinh doanh của chủ sở hữu công ty. Việc cử người đại diện bản chất là quan hệ ủy quyền dân sự, do đó chủ sở hữu công ty phải có toàn quyền tự đánh giá nhu cầu quản lý để quyết định số lượng người đại diện phù hợp mà không nên bị pháp luật ấn định khung cứng nhắc từ 3 đến 7 người.

5. Vì sao việc bỏ "Tội kinh doanh trái phép" trong Bộ luật Hình sự năm 2015 lại có ý nghĩa lớn đối với quyền tự do kinh doanh? Việc bãi bỏ tội danh này (xuất phát từ thực tiễn các vụ án như quán café Xin Chào, quán phở Bình Tân) đã thể chế hóa đúng tinh thần Hiến pháp năm 2013 rằng công dân được tự do kinh doanh những gì luật không cấm. Hành vi chậm đăng ký kinh doanh không đồng nhất với hành vi phạm tội hình sự; các vi phạm về ngành nghề cấm hoặc điều kiện đã được xử lý bằng các tội danh chuyên biệt khác hoặc chế tài hành chính, qua đó dỡ bỏ tâm lý lo sợ rủi ro hình sự cho các nhà đầu tư.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Hoàng Nam đã làm sáng tỏ một cách toàn diện cơ sở lý luận và các biểu hiện pháp lý thực định của quyền tự do kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Đầu tư năm 2014. Bằng phương pháp nghiên cứu lịch sử và đối chiếu - so sánh chuẩn xác, công trình đã làm nổi bật những cải cách lớn về quyền tự chủ con dấu, bãi bỏ học thuyết ultra vires, thu hẹp ngành nghề cấm và đổi mới mô hình quản trị công ty. Đồng thời, khóa luận đã thẳng thắn chỉ ra các hạn chế trong thực thi văn bản dưới luật và đưa ra những gợi mở xác đáng nhằm tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý bảo đảm quyền tự do kinh doanh tại Việt Nam.