Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước “Trên thế giới “QTDKD” và bảo đảm “QTDKD” là chủ đề thu hút được nhiều sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học, các chuyên gia, viện nghiên cứu và các tổ chức quốc tế trong nước và ngoài nước trong nhiều năm qua. Ở nước ta, “QTDKD” gắn liền với việc thực hiện công cuộc đổi mới, đặc biệt từ khi “QTDKD” được chính thức ghi nhận tại Hiến pháp năm 1992 đã thu hút sự quan tâm của đông đảo các nhà khoa học và đã có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị về vấn đề này. Tuy nhiên, đây là vấn đề rất rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau.
Vì vậy, những công trình này có hướng tiếp cận khai thác, nghiên cứu và nhận thức dưới nhiều góc độ khác nhau”. Có thể sắp xếp các công trình nghiên cứu liên quan đến bảo đảm “QTDKD” thành những nhóm sau: 1. Các công trình nghiên cứu về quyền và bảo đảm quyền con người “Cuốn sách “The Universal Declaration of Human Rights: Acommon Standard of Achiievement” của Gudmundur Alfredsson và Asbjorn Eide (Dịch sát nghĩa là: Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền: một chuẩn mục chung cần đạt được) [131]. Cuốn sách được biên dịch, xuất bản trong khuôn khổ Chương trình Quản trị Nhà nước và cải cách hành chính – trụ cột quản trị nhà nước, hợp phần 3 – hợp tác giữa Việt Nam và Đan Mạch giai đoạn 2007-2011.
Cuốn sách được đóng góp bởi nhiều học giả và nhà hoạt động thực tiễn nổi tiếng trong lĩnh vực nhân quyền. Nội dung cuốn sách phân tích nguồn gốc của tuyên ngôn và nội dung các điều khoản của Tuyên ngôn và là cơ sở để NCS phân tích, luận giải vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện bảo đảm “QTDKD””. Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về bảo đảm quyền con người nói chung gồm: Sách chuyên khảo “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp Việt Nam” của nhóm tác giả, đồng chủ biên Phạm Văn Ba, Nguyễn Thị Báo, Vũ Công Giao đã làm rõ cơ sở lý luận, pháp lý, thực tiễn của mỗi quan hệ giữa Hiến pháp và tư tưởng quyền con người; xác định, phân tích, so sánh cách thức và mức độ ghi nhận, phản ánh chế độ quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong các bản Hiến pháp Việt Nam trước năm 2013 và Hiến pháp các nước trên thế giới [8]. 7 luan an “Sách chuyên khảo “Quyền con người – tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học (Tập 1, tập 2)” do tác giả Võ Khánh Vinh chủ biên [91,92].
Đây là công trình gồm nhiều bài viết nghiên cứu về lý luận, lịch sử về quyền con người, đảm bảo thực hiện và cơ chế bảo vệ quyền con người; phân tích về mô hình bộ máy quốc gia về nhân quyền ở một số nước và đưa ra những giải pháp về cơ chế bảo đảm quyền con người ở Việt Nam. Đặc biệt là bài viết “Thực hiện quyền con người vì mục tiêu phát triển con người ở Việt Nam, một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Vũ Minh Chi, trong đó đã phân tích: “việc Nhà nước tôn trọng và bảo vệ quyền con người, tạo điều kiện để các quyền con người được thực hiện thông qua việc đề ra và thực hiện các luật lệ, chính sách, đường lối chủ trương chính là quá trình thực hiện quyền con người. Thông qua quá trình thực hiện quyền con người như vậy các chủ thể mang quyền được thụ hưởng trên hiện thực” [94, tr. “Cuốn sách chuyên khảo về “Cơ chế bảo đảm và bảo vệ quyền con người” [93] của tác giả Võ Khánh Vinh chủ biên, trong đó gồm nhiều bài viết của các tác giả có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực quyền con người như: Đinh Ngọc Vượng, Phạm Hữu Nghị, Nguyễn Thị Việt Hương và Lê Thị Hồng Nhung”.
Các tác giả đã phân tích nghiên cứu về nhận thức chung về cơ chế bảo đảm, bảo vệ quyền con người, các yếu tố tác động đến cơ chế bảo đảm, bảo vệ quyền con người, vai trò thể chế và thiết chế trong việc bảo đảm và thúc đẩy quyền con người đáp ứng yêu cầu xây dựng NNPQ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Cuốn giáo trình sau đại học về “Cơ chế quốc tế và khu vực về quyền con người” của tác giả Võ Khánh Vinh và Lê Mai Thanh chủ biên đã đi sâu phân tích, luận giải khái niệm, nội dung cơ chế quốc tế, cơ chế khu vực về quyền con người. Theo đó, cơ chế quốc tế tôn trọng, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người là hệ thống các nguyên tắc, quy phạm pháp luật quốc tế và các thiết chế quốc tế trong mối quan hệ tác động qua lại với nhau nhằm bảo đảm quyền con người” [94]. Tạp chí Dân chủ Pháp luật, Bộ Tư pháp phát hành số chuyên đề “Bảo đảm quyền con người và quyền công dân bằng thiết chế tư pháp” [76] gồm nhiều bài viết phân tích việc bảo đảm quyền con người thông qua hoạt động xét xử của TA, hoạt động thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự.
“Bên cạnh đó, luận án “Cơ chế pháp lý về bảo hộ công dân ở Việt Nam” của tác giả Phan Thanh Hà [33] đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về bảo hộ công dân, phân biệt rõ khái niệm bảo hộ, bảo đảm và bảo vệ quyền công dân và làm sáng tỏ khái niệm, các yếu tố cấu thành của cơ chế pháp lý bảo hộ công dân. Theo tác giả để hoạt động 8 luan an bảo hộ pháp lý đối với công dân được thực hiện trên thực tế, cơ chế này phải có những yếu tố cơ bản sau: Thể chế bảo hộ, thiết chế bảo hộ và các phương thức, biện pháp mà chủ thể bảo hộ được phép sử dụng trong hoạt động bảo hộ công dân”. Các công trình nghiên cứu trên đây đã phân tích rất sâu sắc các vấn đề lý luận về quyền con người và bảo đảm quyền con người. Đây là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho NCS khi nghiên cứu về chủ đề bảo đảm “QTDKD” theo pháp luật Việt Nam.
Các công trình nghiên cứu về quyền tự do kinh doanh “Luận án “Xây dựng và hoàn thiện pháp luật kinh tế nhằm đảm bảo “QTDKD” ở nước ta” của tác giả Bùi Ngọc Cường [27] đã nghiên cứu những vấn đề lý luận về “QTDKD”, xác định bản chất, nội dung và những yếu tố chi phối “QTDKD”; nghiên cứu lý giải vai trò của pháp luật kinh tế trong việc đảm bảo “QTDKD”; phân tích, đánh giá thực trạng những nội dung cơ bản của “QTDKD” trong pháp luật kinh tế hiện hành và đề ra những định hướng và giải pháp nhằm xây dựng hoàn thiện pháp luật kinh tế đảm bảo “QTDKD” ở Việt Nam. Tác giả cũng đã phân tích “QTDKD” dưới góc độ chủ thể, đặc biệt dưới góc độ là một chế định pháp luật, tác giả đã đưa ra khái niệm ““QTDKD” là hệ thống các quy phạm pháp luật và những đảm bảo pháp lý do Nhà nước ban hành nhằm tạo điều kiện cho các cá nhân hay pháp nhân thực hiện quyền chủ thể nói trên” [27, tr. Với quan niệm này cho thấy “QTDKD” gồm có hai mặt tồn tại trong thể thống nhất: một mặt là những quyền chủ thể KD được hưởng, mặt khác đó là trách nhiệm của cơ quan nhà nước, công chức nhà nước khi thực hiện chức năng quản lý của mình phải tôn trọng, bảo vệ những quyền của chủ thể KD”. “Cuốn sách chuyên khảo “TDKD và vấn đề bảo đảm quyền con người tại Việt Nam” của tác giả Mai Hồng Quỳ đã phân tích những vấn đề lý luận về quyền con người, “QTDKD” và quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về vấn đề này, tác giả phân tích “QTDKD” ở Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử.
Tác giả đã tập trung vào nghiên cứu, phân tích những chế định cơ bản thể hiện sự bảo đảm “QTDKD” của công dân ở Việt Nam như: quyền thành lập DN trong các lĩnh vực; quyền tự do hợp đồng và quyền tự định đoạt trong việc giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động KD” [74]. “Cuốn “Economic Freedom of the World, 2019 annual report” (Quyền tự do kinh tế trên thế giới, báo cáo năm 2019) của Viện nghiên cứu Fraser [129] đã phân tích “QTDKD” xuất phát từ quyền sở hữu cá nhân, theo đó, cá nhân có quyền lựa chọn, quyết định sử dụng thời gian và khả năng của mình cho cuộc sống của họ, từ đó, mở rộng ra, họ có quyền tạo ra sản phẩm để đáp ứng nhu cầu phục vụ chính bản thân mình. Trên cơ sở đó, “QTDKD” được xác định là sự tự lựa chọn, quyết định của cá nhân về việc sản xuất 9 luan an hàng hóa, cung ứng dịch vụ mà không bị can thiệp, bó hẹp bởi những yếu tố tác động bên ngoài (bao gồm cả ý chí chính trị, biện pháp can thiệp kinh tế, quy trình, thủ tục, pháp luật…)”. Về nội dung “QTDKD”, theo phân tích của tác giả Phan Huy Hồng và tác giả Nguyễn Thanh Tú trong cuốn sách ““QTDKD” theo pháp luật liên minh Châu Âu và Việt Nam” [38] nội dung của “QTDKD” bao gồm 4 quyền: Quyền tự do cung cấp (di chuyển) hàng hóa, tự do di chuyển con người, tự do cung cấp dịch vụ và tự do di chuyển vốn.
Tuy nhiên, những quyền này có thể bị hạn chế vì lý do chính sách, an ninh, đạo đức công cộng hay sức khỏe cộng đồng. “Một cách tiếp cận mới mẻ khác về nội dung “QTDKD” được đề cập trong đề tài khoa học cấp Bộ ““QTDKD” và bảo đảm “QTDKD” theo Hiến pháp năm 2013” [77] do Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp là tổ chức chủ trì, trong đó Ban chủ nhiệm và nhóm nghiên cứu đã phân tích nội dung cơ bản của “QTDKD” bao gồm quyền tự do lựa chọn hình thức đầu tư, thành lập DN và lựa chọn ngành nghề KD; Quyền tự do cạnh tranh và quyền được rút khỏi thị trường. Bên cạnh đó tác giả phân tích các quyền khác có tác động đến “QTDKD” như: Quyền tự do sở hữu tài sản, quyền tự do hợp đồng, quyền tự do tiếp cận nguồn lực, quyền tiếp cận thông tin, quyền tự do lựa chọn hình thức, cách thức giải quyết tranh chấp và một số quyền khác như: quyền làm việc, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, hội họp, lập hội.