chương 1 về tổng quan các vấn đề nghiên cứu; chương 2 điểm lại các nghiên cứu trước và đưa ra khung phân tích; chương 3 xem xét thực trạng chính sách SHTT tại Việt Nam và phân tích vai trò của chính sách đối với quá trình chuyển giao công nghệ; chương 4 đề xuất chính sách SHTT đảm bảo cân bằng lợi ích giữa hai kênh tiếp nhận công nghệ và kết luận. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Chương 2 KHUNG PHÂN TÍCH 2. Khung phân tích 2. Các nghiên cứu trước Nhiều nghiên cứu về SHTT toàn cầu ủng hộ tăng cường sự bảo vệ quyền SHTT.
Vai trò của quyền SHTT đối với tiến bộ công nghệ được các nhà nghiên cứu kinh tế theo trường phái lý thuyết tăng trưởng nội sinh đánh giá cao. Lý thuyết tăng trưởng nội sinh xem tiến bộ công nghệ là một biến số quan trọng. Những số liệu thống kê lịch sử cho thấy những gợi ý về mối quan hệ đồng biến giữa tăng trưởng kinh tế, R&D và SHTT (Idris, 2005). Yang và Maskus (2008) đề xuất bảo vệ quyền SHTT mạnh để thúc đẩy chuyển giao công nghệ.
Các nghiên cứu theo dòng quan điểm này cho thấy quyền SHTT thúc đẩy thương mại toàn cầu, đồng thời cũng là chất xúc tác cho tăng trưởng FDI. Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác lập luận rằng cần giảm bớt mức độ bảo vệ quyền SHTT tại các nước đang phát triển để tiếp cận và sao chép công nghệ trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển. Maskus (2000b) cho rằng quyền SHTT yếu trong giai đoạn đầu sẽ giúp học hỏi công nghệ, nhưng trong dài hạn quyền SHTT cần bảo vệ chặt để thúc đẩy sáng tạo. Chen và Puttianum (2004) đề xuất mức độ bảo hộ quyền SHTT lúc đầu giảm dần rồi sau tăng dần.
Quyền SHTT mạnh hay yếu tùy thuộc mức độ phát triển của quốc gia. Mansfield (1994) cho thấy quyền SHTT giảm chỉ tác động đến FDI trong việc liên doanh, các công ty từ Mỹ vẫn đầu tư dự án 100% vốn nước ngoài và vốn đầu tư thuộc lĩnh vực phân phối. Tại Hàn Quốc, Giáo sư Linsu Kim đã đóng góp rất nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa phát triển công nghệ và quyền SHTT. Từ những nghiên cứu trong nội bộ ngành công nghiệp đến mức độ quốc gia, cho thấy vấn đề chính sách bảo vệ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 quyền SHTT yếu hay mạnh nhằm khuyến khích chuyển giao công nghệ phụ thuộc vào mức độ phức tạp của công nghệ và trình độ công nghệ.
Trong luận văn này, nhằm xem xét vai trò của chính sách bảo vệ quyền SHTT trong khuyến khích chuyển giao công nghệ, tác giả áp dụng khung lý thuyết dựa trên các nghiên cứu của Linsu Kim về quỹ đạo phát triển công nghệ và chuyển giao công nghệ từ những nước phát triển vào những nước đang phát triển, mối liên hệ giữa chuyển giao công nghệ và quyền SHTT, nghiên cứu của Maskus (2000b) về chi phí chuyển giao công nghệ. Để xem xét ảnh hưởng của chính sách bảo vệ quyền SHTT đến quá trình chuyển giao công nghệ, trước hết tác giả điểm lại lý thuyết về quỹ đạo chuyển giao công nghệ và các kênh chuyển giao công nghệ. Ba giai đoạn chuyển giao trong quỹ đạo công nghệ Những nghiên cứu của Linsu Kim (2003) đề xuất các giai đoạn phát triển của công nghệ theo quỹ đạo công nghệ để các nước đang phát triển bắt kịp các nước phát triển. Tại những nước phát triển, theo Utterback và Abernathy (từ Kim, 2003), quỹ đạo công nghệ của một sản phẩm trải qua ba trạng thái được tác giả gọi là trạng thái dễ biến đổi (fluid), trạng thái chuyển tiếp (transition) và trạng thái chi tiết (specific).
Quỹ đạo công nghệ tại các nước đang phát triển được Linsu Kim (1980) nghiên cứu trong ngành điện tử Hàn Quốc và đưa ra mô hình ba giai đoạn: tiếp nhận công nghệ (acquisition), hấp thụ công nghệ (assimilation) và cải tiến công nghệ (improvement). • Tiếp nhận công nghệ (acquisition): Ở giai đoạn đầu của công nghiệp hóa, các nước đang phát triển tiếp nhận các công nghệ cơ bản từ những nước công nghiệp phát triển. Các doanh nghiệp nội địa phát triển quy trình sản xuất thông qua việc tiếp nhận công nghệ trọn gói bao gồm dây truyền sản xuất, sản phẩm, bí quyết công nghệ, nhân công kỹ thuật và các phần khác liên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Giai đoạn này sẽ sản xuất ra những sản phẩm hoàn toàn giống những sản phẩm của các công ty nước ngoài đã sản xuất.
• Hấp thụ công nghệ (assimilation): Sau khi tiếp nhận thành công công nghệ, công nghệ sản xuất và tạo dáng sản phẩm nhanh chóng lan truyền trong nước. Công nghệ mới tiếp tục được du nhập. Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước để tiếp cận những công nghệ đó sẽ khuyến khích những nỗ lực kỹ thuật nội địa trong việc hấp thụ và làm chủ công nghệ để sản xuất những sản phẩm có đôi chút khác biệt. • Cải tiến công nghệ (improvement): Trong một nền kinh tế mở, việc làm chủ công nghệ thành công sẽ thúc đẩy doanh nghiệp xuất khẩu các sản phẩm chủ lực.
Trong nỗ lực đó, sự kết hợp cùng năng lực tăng cường của khoa học và nhân lực kỹ thuật trong nước sẽ dần dần cải tiến các công nghệ cơ bản. Điểm nhấn của giai đoạn này là sao chép nguyên trạng, chính xác và “mở khóa” được công nghệ. Các hình thức chuyển giao công nghệ Theo Linsu Kim, có bốn kênh có thể tiếp nhận công nghệ (Kim, 1997), được mô tả trong hình 2. Sự phân chia này dựa vào cách tiếp nhận trực tiếp hoặc gián tiếp, có thị trường hay không có thị trường.
Tiếp nhận chính thức là khi người sở hữu công nghệ quản lý được quá trình lan tỏa công nghệ của mình và thu được chi phí nghiên cứu. Ngược lại, tiếp nhận công nghệ phi chính thức khi người sở hữu công nghệ không quản lý được quá trình lan tỏa công nghệ và không thu được chi phí nghiên cứu. Tiếp nhận công nghệ có thị trường là khi giao dịch được thực hiện trên nguyên tắc hợp đồng có bên mua và bên bán, có thương lượng về chi phí. Tiếp nhận công nghệ không có thị trường là chuyển giao công nghệ không có hợp đồng cam kết.
Công nghệ có thể ngẫu nhiên đi kèm theo giao dịch khác mà không phải trả chi phí tiếp nhận công nghệ. Phụ lục 3 mô tả các kênh tiếp nhận công nghệ một cách chi tiết. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Trực tiếp Gián tiếp Đầu tư trực tiếp, Sản phẩm thương mại, Có thị li-xăng công nghệ, tiêu chuẩn kỹ thuật trường cố vấn kỹ thuật Hỗ trợ kỹ thuật bởi Quan sát, tham quan Không có người mua, nhà cung thương mại, thông tin thị trường cấp kỹ thuật Hình 2.1 - Các hình thức tiếp nhận công nghệ Nguồn: Linsu Kim, 2003 [29] Quá trình chuyển giao công nghệ chịu tác động bởi khả năng hấp thụ công nghệ của các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghệ đó (Cohen và Levinthal, 1990; Kim, 1998 từ Kim, 2003). Khả năng hấp thụ công nghệ là những gì có được thông qua quá trình học hỏi công nghệ.
Khả năng hấp thụ công nghệ phụ thuộc vào hai nhân tố quan trọng là kiến thức nền và mức độ nỗ lực. Kiến thức nền là khả năng, trình độ học vấn của mỗi cá nhân trong tổ chức. Mức độ nỗ lực là phần năng lực các cá nhân trong tổ chức bỏ ra để cùng giải quyết vấn đề. Việc chuyển giao công nghệ có thể là khó hay dễ tùy thuộc vào độ phức tạp của công nghệ và cách tiếp nhận (Maskus, 2000b).
Ví dụ như việc sao chép một phần mềm là khá đơn giản, nhưng việc nắm được phần mềm đó có cấu trúc thế nào lại khó khăn hơn. Sao chép hình dáng bên ngoài sản phẩm là đơn giản, nhưng nắm được công nghệ bên trong là rất khó khăn. Những sản phẩm công nghệ phức tạp như việc sản xuất bản mạch, chíp máy tính là rất khó sao chép. Vai trò của chính sách SHTT đối với chuyển giao công nghệ Quyền SHTT có ảnh hưởng quan trọng đến chi phí chuyển giao công nghệ (Maskus, 2000b).
Theo Teece (trong Maskus, 2000b) dù công nghệ được chuyển giao theo cách nào cũng phải tốn chi phí. Chi phí có thể không đáng kể như trong LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 trường hợp sao chép phần mềm đến rất nhiều đối với việc mua chuyển giao quyền sử dụng đối tượng SHTT sản xuất các sản phẩm công nghệ cao. Xét trên góc độ tiếp nhận công nghệ không trực tiếp, quyền SHTT mạnh sẽ ngăn chặn khả năng sao chép nguyên trạng sản phẩm (như đối với phần mềm máy tính) và làm tăng chi phí mô phỏng công nghệ hoặc kỹ thuật ngược. Xét trên góc độ tiếp nhận công nghệ gián tiếp, quyền SHTT mạnh sẽ làm giảm chi phí chuyển giao của chủ công nghệ bởi hai lý do: một là do quyền SHTT được bảo đảm sẽ tạo ra một hiệu ứng mở rộng thị trường nghiên cứu; hai là quyền SHTT mạnh tạo điều kiện thuận lợi cho giao dịch công nghệ và tạo ra những hợp đồng chuyển giao rõ ràng hơn.
Do đó, quyền SHTT đóng vai trò cân bằng trong thúc đẩy sáng tạo và hạn chế sao chép, ảnh hưởng đến tiếp nhận chủ động hoặc bị động. Khi quyền sở hữu trí tuệ tại một quốc gia được bảo đảm mạnh, chuyển giao công nghệ theo hướng chính thức nhiều hơn, các hãng trong nước cũng sẵn sàng đầu tư chi phí để tiếp nhận công nghệ mới, đầu tư chi phí nghiên cứu để làm chủ và cải tiến công nghệ. Nhưng khi đó, các sản phẩm sản xuất theo công nghệ nước ngoài có xu hướng độc quyền nhiều hơn, tăng giá và làm giảm thặng dư xã hội và thặng dư tiêu dùng. Đồng thời, các hãng trong nước do có môi trường cạnh tranh mạnh sẽ đầu tư cho nghiên cứu nhiều hơn, tạo ra những sản phẩm phù hợp hơn sẽ tác động tăng hiệu quả đầu tư và tăng thặng dư xã hội (Chen và Puttianum, 2005).
Ngược lại, khi quyền sở hữu trí tuệ yếu, xu hướng chuyển giao công nghệ theo hướng bị động tăng, đặc biệt là sao chép nguyên trạng. Xu hướng này trong ngắn hạn sẽ làm giảm giá thành sản phẩm (do giảm chi phí chuyển giao công nghệ), tăng thặng dư xã hội và thặng dư tiêu dùng. Nhưng trong dài hạn sẽ không có tác dụng khuyến khích các hãng trong nước đầu tư chi phí cho nghiên cứu và quá trình phát triển công nghệ chỉ dừng lại ở giai đoạn chuyển giao mà khó chuyển qua giai đoạn làm chủ và cải tiến.