đặt vấn đề bảo vệ trẻ em vào trung tâm hoạt động của mình thông qua việc thành lập Qu Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF). Với tinh thần đó, ngay sau khi công bố Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền vào năm 1948, Liên hợp quốc đã bắt tay vào việc soạn thảo một văn kiện về quyền của trẻ em với mục tiêu tạo ra những cơ sở pháp lý chung nhất và cơ bản nhất về quyền của trẻ em trong phạm vi toàn cầu. 17 Liên hợp quốc đã quyết định làm mới bản Tuyên ngôn năm 1924 của Hội quốc liên và đến ngày 20 tháng 11 năm 1959 tại Geneva, bằng Nghị quyết số 1386 (XIV), Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua một bản Tuyên ngôn mới về quyền của trẻ em. Tuyên ngôn Geneva về quyền trẻ em năm 1959 đƣa ra mƣời nguyên tắc, trong đó, nguyên tắc thứ bảy nhấn mạnh: “Trẻ em có quyền được hưởng giáo dục miễn phí và bắt buộc, ít nhất là bậc tiểu học.
Trẻ sẽ được nhận một nền giáo dục có thể phát huy nền văn hóa chung của mình, và giúp trẻ trên cơ sở có cơ hội bình đẳng phát triển khả năng của mình, các nhận thức của mình, và ý thức trách nhiệm về đạo đức và xã hội, và trở thành một thành viên có ích của xã hội. Tất cả vì trẻ em sẽ là nguyên tắc chỉ đạo cho những người có trách nhiệm giáo dục và hướng dẫn trẻ: trách nhiệm đó trước hết là thuộc bố mẹ trẻ. Trẻ sẽ phải có đủ cơ hội để vui chơi và giải trí, được định hướng theo cùng những mục đích giáo dục: xã hội và chính quyền phải cố gắng phát huy quyền này của trẻ.” So với nội dung 5 nguyên tắc của Tuyên ngôn năm 1924 của Hội quốc liên thì Tuyên ngôn năm 1959 của Liên hợp quốc đã mở rộng phạm vi của vấn đề về chăm sóc và bảo vệ trẻ em một cách toàn diện hơn. Đặc biệt, quyền đƣợc giáo dục của trẻ em đã đƣợc nêu cụ thể và rõ ràng hơn nhiều.
Tuyên ngôn năm 1959 cũng đặt dấu mốc cho nội dung quyền đƣợc hƣởng giáo dục miễn phí và bắt buộc của trẻ em. Tuy nhiên, bản Tuyên ngôn chƣa thực sự là một văn bản có giá trị pháp lý, mặc dù sức nặng đạo lý của nó là rất lớn. Bắt đầu từ năm 1979 cho đến năm 1989, các chuyên gia của nhiều nƣớc trên thế giới trong Ủy ban của Liên hợp quốc về nhân quyền đã bắt tay vào việc soạn thảo một văn kiện pháp lý quốc tế có hiệu lực ràng buộc về quyền trẻ em. Ngày 20/11/1989, Công ƣớc về quyền trẻ em đã đƣợc Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua và có hiệu lực kể từ ngày 2/9/1990.
Khác với các bản Tuyên ngôn trƣớc đó chỉ nêu ra các nguyên tắc, Công ƣớc về quyền trẻ em đã đặt ra các quy chuẩn tối thiểu về đạo lý và pháp lý có giá trị bắt buộc thực hiện đối với tất cả các quốc gia tham gia. Đây là văn bản pháp lý quốc tế đầu tiên và hiện vẫn đang có hiệu lực quy định một cách toàn diện các quyền của trẻ em, không chỉ các quyền về kinh tế, xã hội, văn hóa mà còn 18 các quyền dân sự và chính trị. CRC bao gồm các điều khoản trong đó yêu cầu các quốc gia thành viên thừa nhận quyền đƣợc hƣởng giáo dục của trẻ em. Công ƣớc Quốc tế về quyền trẻ em thừa nhận rằng, ở mọi quốc gia trên thế giới, vẫn còn trẻ em sống trong các điều kiện đặc biệt khó khăn và những trẻ em đó cần nhận đƣợc sự quan tâm đặc biệt.
Một thông điệp nhất quán và xuyên suốt trong các văn bản pháp luật quốc tế thể hiện tính bao hàm, với cả những nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, là “mọi trẻ em đều có quyền được giáo dục.” Tuyên bố Geneva, đƣợc thông qua bởi Hội Quốc Liên vào năm 1924, là nền tảng cho việc soạn thảo Tuyên ngôn về quyền trẻ em năm 1959 khẳng định rằng “trẻ em phải được cung cấp những phương tiện cần thiết cho sự phát triển bình thường cả về thể chất lẫn tinh thần.” Theo nguyên tắc số 7 của Tuyên ngôn về quyền trẻ em năm 1959, “Trẻ em có quyền được hưởng giáo dục.” Công ƣớc quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa chứa đựng những điều khoản cơ bản về giáo dục với tƣ cách là một quyền con ngƣời ở cấp độ toàn cầu đã thừa nhận quyền đƣợc hƣởng giáo dục của tất cả mọi ngƣời. Công ƣớc chống Phân biệt đối xử trong giáo dục của UNESCO năm 1960 khẳng định rằng mọi ngƣời đều có quyền học tập và yêu cầu các quốc gia thành viên thực hiện các biện pháp nhằm cấm phân biệt đối xử trong giáo dục. Nghị định thƣ thứ nhất của Công ƣớc châu Âu về bảo vệ quyền tự do cơ bản đƣợc thông qua vào năm 1954 khẳng định “không ai có thể bị từ chối quyền hưởng giáo dục.” Hiến chƣơng Xã hội châu Âu năm 1961 cũng chứa những điều khoản liên quan tới giáo dục của trẻ em và trẻ vị thành niên, cụ thể “những người đang phải tham gia giáo dục bắt buộc thì không được thuê tuyển làm công việc có thể khiến họ mất quyền học tập đầy đủ.” Hiến chƣơng châu Phi về quyền con ngƣời và các dân tộc năm 1981) nói nhƣ sau: “Mọi cá nhân đều có quyền được hưởng giáo dục.” Quyền đƣợc giáo dục của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt cũng đƣợc quy định cụ thể trong một số văn kiện quốc tế cụ thể về quyền của một số nhóm ngƣời dễ bị tổn thƣơng nhƣ phụ nữ, trẻ em, ngƣời lao động di trú, ngƣời khuyết tật, ngƣời sống chung với HIV/AIDS. Trong một số Bình luận chung của Ủy ban về Quyền trẻ em 19 nhƣ Bình luận chung số 3 về HIV/AIDS và quyền trẻ em, Bình luận chung số 9 về quyền của trẻ em khuyết tật, Bình luận chung số 21 về trẻ em sống trong hoàn cảnh đƣờng phố… cũng giải thích rõ hơn về quyền đƣợc giáo dục của những nhóm trẻ em này và đặt ra nghĩa vụ cụ thể với các quốc gia.
Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả tập trung phân tích quy định pháp luật quốc tế về quyền đƣợc giáo dục của các nhóm trẻ em khuyết tật, trẻ em di cƣ và trẻ em sống trong đói nghèo. Pháp luật quốc tế về quyền được giáo dục của trẻ em khuyết tật Công ƣớc CRC khẳng định trẻ em khuyết tật về thể chất hoặc tinh thần có quyền đƣợc giáo dục, để giúp các em có cuộc sống trọn vẹn, đầy đủ, đƣợc bảo đảm phẩm giá, thúc đẩy khả năng tự lập và hòa nhập với xã hội của các em ở mức độ cao nhất có thể đƣợc. Công ƣớc CRPD cũng yêu cầu các quốc gia phải đảm bảo cơ hội học tập bình đẳng cho trẻ em là ngƣời khuyết tật ở mọi cấp và hình thức giáo dục, cũng nhƣ phải trợ giúp để trẻ em khuyết tật có những phƣơng tiện, cơ sở vật chất, công nghệ và phƣơng pháp giáo dục thích hợp. Quyền đƣợc giáo dục của trẻ khuyết tật đƣợc quy định tại Điều 28, 29 CRC và Điều 24 CRPD.
Theo đó, trẻ khuyết tật có quyền đƣợc học tập giống nhƣ tất cả trẻ em khác và không bị phân biệt đối xử khi thực hiện quyền này. Cụ thể: Đƣợc tôn trọng danh dự, nhân phẩm; Có hệ thống giáo dục ở mọi cấp và học tập suốt đời cho trẻ khuyết tật cùng với trẻ không khuyết tật trên cơ cơ sở bình đẳng về cơ hội; Đƣợc phát triển trọn vẹn năng lực tiềm tàng của con ngƣời, nhận thức về nhân cách và phẩm giá, củng cố sự tôn trọng quyền con ngƣời, các tự do cơ bản và tính đa dạng của loài ngƣời; Đƣợc phát triển trọn vẹn tiềm năng về tính cách, tài năng, sáng tạo, cũng nhƣ những năng lực thể chất và tinh thần; Không bị loại khỏi hệ thống giáo dục tiểu học bắt buộc, giáo dục trung học, giáo dục phổ thông trên cơ sở sự khuyết tật; Đƣợc tiếp cận giáo dục tiểu học và trung học cơ sở có chất lƣợng tốt và miễn phí trên cơ sở bình đẳng với những trẻ khác; 20 Đƣợc đảm bảo những điều chỉnh hợp lý, sự trợ giúp cần thiết trên cơ sở nhu cầu cá nhân của từng trẻ khuyết tật nhƣ: Đƣợc học chữ Braille, chữ viết thay thế, các cách thức, phƣơng tiện và dạng giao tiếp hoặc định hƣớng tăng cƣờng hoặc thay thế, k năng di chuyển, đối với trẻ khiếm thị, trẻ mù; Đƣợc tạo thuận lợi cho việc học ngôn ngữ ký hiệu và khuyến khích phát triển bản sắc ngôn ngữ của cộng đồng ngƣời khiếm thính; Đƣợc đảm bảo giáo dục bằng những ngôn ngữ, cách thức và phƣơng tiện giao tiếp thích hợp nhất cho trẻ đó. Đƣợc đảm bảo có giáo viên, trong đó có giáo viên khuyết tật, có trình độ về ngôn ngữ ký hiệu và/hoặc chữ Braille, đào tạo chuyên gia và nhân viên ở mọi cấp giáo dục. Việc đào tạo này phải bao gồm nâng cao nhận thức về ngƣời khuyết tật và sử dụng các cách thức, phƣơng tiện và dạng giao tiếp tăng cƣờng hoặc thay thế, k thuật và cơ sở vật chất giáo dục để hỗ trợ ngƣời khuyết tật.
Pháp luật quốc tế về quyền được giáo dục của trẻ em di cư Pháp luật quốc tế có quy định bảo vệ trẻ em trong những gia đình có ngƣời di chuyển đến và làm việc tại một quốc gia mà ngƣời đó không phải là công dân. Cụ thể trong công ƣớc quốc tế về quyền của ngƣời lao động di trú và các thành viên trong gia đình họ (ICRMW) quy định các quyền con ngƣời áp dụng chung cho mọi ngƣời lao động di trú, trong đó có quyền của trẻ em các gia đình lao động di trú đƣợc tiếp cận giáo dục trên cơ sở đối xử bình đẳng nhƣ các công dân của quốc gia mà cha mẹ đang làm việc. Theo ICRMW, “Con cái của người lao động di trú có quyền cơ bản được tiếp cận giáo dục trên cơ sở đối xử bình đẳng như các công dân của quốc gia có liên quan. Việc tiếp cận các cơ sở giáo dục trước khi đi học hoặc các trường học không bị từ chối hay hạn chế vì tính chất không thường xuyên liên quan đến việc cư trú hoặc lao động của bố hoặc mẹ hoặc vì tính chất không thường xuyên liên quan đến việc cư trú của trẻ tại quốc gia nơi có việc làm.” Quyền này yêu cầu các quốc gia phải đảm bảo bình đẳng tiếp cận với nền giáo dục có chất 21 lƣợng và hòa nhập cho tất cả trẻ em di cƣ, không phân biệt tình trạng di cƣ.