CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI 1. Khái niệm và ý nghĩa của việc bảo vệ quyền con người của người dưới 18 tuổi phạm tội 1. Khái niệm Quyền con người Khi nói đến quyền con người cần hiểu “quyền con người” hay “quyền của con người” trước hết là sự nhận thức, ý thức của con người về các quyền của con người cần có, không phân biệt màu da, quốc tịch, dân tộc, tiếng nói, đều có những quyền giống nhau mà con người mong muốn, đấu tranh vì các quyền của cá nhân con người trong xã hội, còn những gì được ghi nhận bởi các thể chế quốc tế, hay quốc gia chỉ là sự hiện thực hóa về mặt pháp lý các quyền con người, đó là kết quả sự đấu tranh để giải phóng con người, do đó không nên đồng nhất giữa hai phạm trù này, một phạm trù thuộc tư tưởng và phạm trù pháp lý. Phạm trù pháp lý về quyền con người chỉ tiến dần hay tiệm cận dần đến quyền con người với tư cách là một phạm trù tư tưởng.
Tư tưởng luôn có tính vượt trước so với pháp luật thực định. Tư tưởng là cái tối đa, còn pháp luật chỉ là tối thiểu. Chính vì vậy, mà các nhà tư tưởng theo trường phái pháp quyền tự nhiên, đều cho rằng pháp luật về quyền con người không thể chống lại quyền con người với tư cách là phạm trù tư tưởng, hay quyền con người cao hơn sự ghi nhận của pháp luật về quyền con người. Nhưng vấn đề bảo đảm, bảo vệ quyền con người trong thực tiễn lại có một khoảng cách nhất định so với những gì đã được ghi nhận.
Như vậy, giữa cái mà con người nhận thức được về quyền con người là cái cần có, hay cần được ghi nhận trong pháp luật, còn những gì được ghi nhận trong pháp luật bao giờ cũng cao hơn cái hiện thực về quyền con người. 14 Tuy có những quan niệm khác nhau về quyền con người, nhưng về cơ bản các nhà khoa học đều gặp nhau ở những điểm căn bản sau đây [26, tr.21]: Thứ nhất: coi quyền con người là những quyền (giá trị) tự nhiên vốn có, gắn với cá nhân con người. Sự thừa nhận này đến từ nhận thức con người là những bản thể duy nhất, bình đẳng với tất cả các sinh vật khác kể từ khi được sinh ra. Như vậy, với tư cách một thành viên trong xã hội, mỗi cá nhân cần được tôn trọng và cần thiết tôn trọng quyền của các thành viên khác; Thứ hai: quyền con người được được luật hóa dưới dạng các điều ước (quy phạm luật pháp) quốc tế hoặc quy phạm pháp luật quốc gia; hoặc bất kỳ hình thức pháp lý nào khác miễn hướng đến khả năng tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ tốt nhất quyền (đặc biệt các quyền cơ bản) của con người.
Thứ ba: quyền con người gồm tập hợp những quyền cơ bản của mỗi cá nhân với tư cách cá thể độc lập trong xã hội, đồng thời mỗi cá nhân đó lại là một thành viên của cộng đồng, xã hội, chịu sự tương tác qua lại với các thành viên khác trong cộng đồng, xã hội. Thứ tư: quyền con người là quyền của các cá nhân bình đẳng với nhau về mọi phương diện, bất phân đẳng cấp dựa trên nguồn gốc chủng tộc, màu da, tôn giáo, vị thế xã hội, … Thứ năm: quyền con người là một tập hợp các quyền phổ quát, trong đó chứa đựng các quyền cụ thể. Mỗi quyền là một cấu trúc trong tổng thể các quyền phổ quát, đồng thời xác định rõ phạm vi quyền cụ thể của mỗi cá nhân; Như vậy, từ đây cho thấy quyền con người là một hiện tượng phức tạp và đa diện, do đó sẽ không có một định nghĩa nào về quyền con người là hoàn thiện, hoàn bị nhất có thể phản ánh được đầy đủ mọi nội dung, khía cạnh, các mặt của quyền con người, mỗi định nghĩa được đưa ra chỉ phản ánh mặt này hay mặt khác của hiện tượng phức tạp – quyền con người. Trong các thời đại 15 khác nhau có nhu cầu về quyền con người khác nhau, mỗi quốc gia có giá trị nhân quyền cũng khác nhau.
Tóm lại, trong luận văn này, Quyền con người được hiểu là quyền của mọi cá nhân, có từ khi sinh ra, không phân biệt dân tộc, quốc tích, tôn giáo, màu gia, giới tính. Quyền con người của người dưới 18 tuổi Người thành niên là lớp người đã trưởng thành một cách hoàn chỉnh về mặt thể chất lẫn tinh thần. Mục đích của việc đánh giá đó là để quản lý xã hội, quản lý những hành vi lệch chuẩn của con người gây ra và giải quyết vấn đề này một cách thấu tình, đạt lý, đảm bảo các quyền cơ bản của con người, quyền cơ bản của công dân. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra ở đây là ranh giới nào để phân định được người đã thành niên với người dưới 18 tuổi? Hiện nay, quan điểm của các quốc gia trên thế giới vẫn còn có sự khác nhau, vì phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội - dân trí - phong tục - tập quán và lịch sử hình thành của từng quốc gia.
Theo Công ước quốc tế về quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên Hợp quốc thông qua ngày 20/11/1990, tại Điều 1 có quy định: “Trong phạm vi công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em quy định tuổi thành niên sớm hơn”. Như vậy, có thể định nghĩa khái niệm người chưa thành niên: “là người dưới mười tám tuổi, chưa phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần như người đã thành niên”. Dù vậy, nhìn từ các khuôn khổ pháp lý hiện hành, người dưới 18 tuổi cần được các bảo đảm pháp lý như phân tích dưới đây: (i) Trẻ em cũng là những chủ thể pháp luật bình đẳng với người lớn Nguyên tắc này xác định vị thế bình đẳng giữa trẻ em với người lớn trong phương diện chủ thể quyền. Điều đó khẳng định rằng trẻ em cũng có những giá 16 trị như người lớn, và do đó phải được công nhận và bảo vệ các quyền ngay từ giai đoạn thơ ấu.
Được cụ thể hóa bởi điều đầu tiên trong CRC, định nghĩa về trẻ em bao gồm tất cả mọi con người dưới 18 tuổi (trừ khi pháp luật quốc gia quy định khác) [xem tại: 44]. Về nguyên tắc, nếu mức trần về độ tuổi của trẻ em càng cao và cố định thì số lượng trẻ em được bảo vệ với CRC càng lớn. Hay nói cách khác, việc quy định mang tính mềm dẻo như ở Điều 1 của CRC sẽ làm số lượng trẻ em có thể được bảo vệ theo CRC giảm đi ở một số quốc gia. Mặc dù vậy, tính mềm dẻo trong quy định này lại có tác dụng tối ưu trong việc thu hút các quốc gia tham gia vào Công ước; và nhờ đó có thể làm gia tăng số lượng trẻ em được bảo vệ trên phạm vi toàn cầu.
(ii) Nguyên tắc không phân biệt đối xử Cũng giống như nguyên tắc không phân biệt đối xử giữa con người với con người nói chung, các trẻ em dù thuộc về dân tộc nào, chủng tộc, tôn giáo, giới tính nào cũng đều được bình đẳng. Điểm đặc biệt so với vấn đề không phân biệt đối xử ở các công ước khác là ở đây, sự phân biệt đối xử đối với trẻ em được xác định gắn với sự phân biệt đối xử đối với cha mẹ, người giám hộ hay các thành viên trong gia đình trẻ. Cụ thể là không phân biệt đối xử về màu da, giới tính, chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo…hay địa vị khác của trẻ em, cha mẹ, người giám hộ hợp pháp, hoặc những thành viên khác trong gia đình của trẻ. Điều đó có nghĩa là người ta không được phân biệt đối xử giữa một trẻ em da trắng với một trẻ em da đen, giữa một trẻ em có gia đình, có tài sản, có sức khỏe bình thường với một trẻ em vô gia cư, bị tâm thần hoặc trẻ em sống chung với HIV.
(iii) Nguyên tắc lợi ích tốt nhất dành cho trẻ em Nguyên tắc này được cụ thể hóa trong các Điều 3, 9, 18, 20 và 21 của CRC, đòi hỏi trong mọi hoạt động liên quan đến trẻ em, các nhà nước, các bậc cha mẹ, các chủ thể khác phải lấy lợi ích của trẻ em làm mục tiêu hàng đầu. Lợi 17 ích của trẻ em phải được ưu tiên xem xét trong mọi hoạt động liên quan đến trẻ em của mọi chủ thể chứ không chỉ giới hạn trong phạm vi các tiến trình lập pháp, hành pháp, tư pháp của các cơ quan nhà nước. Điều đó không có nghĩa là cào bằng nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước và các chủ thể khác trong vấn đề này. Điều 3 của CRC cũng đã quy định trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc và bảo vệ trẻ em trong trường hợp cha mẹ trẻ hoặc các chủ thể khác không có khả năng thực hiện hoặc hoàn thành các nghĩa vụ ấy.
(iv) Tôn trọng ý kiến, quan điểm của trẻ em Nguyên tắc này chính là yếu tố đảm bảo trẻ em thực sự là chủ thể của các quyền mà các em được ghi nhận. Điều 12 CRC quy định rằng trẻ em có quyền được bày tỏ ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của bản thân đối với những vấn đề có liên quan đến trẻ, dù trực tiếp hay gián tiếp. Bởi những giới hạn về mặt nhận thức của trẻ đối với thế giới khách quan cho nên CRC không buộc các chủ thể phải tôn trọng tất cả mọi ý kiến của trẻ. Ngoài ra, việc tôn trọng ý kiến, quan điểm của trẻ được thực hiện căn cứ vào mức độ trưởng thành về mặt nhận thức của trẻ.
Để thực hiện được điều này thì yếu tố quan trọng là phải tạo được cho trẻ một môi trường thích hợp, nơi mà trẻ tham gia bằng chính những hoạt động của mình (nhà trường, gia đình, các hội, nhóm…). Quyền con người của người dưới 18 tuổi phạm tội và Bảo vệ quyền con người của người dưới 18 tuổi phạm tội Quyền con người của người dưới 18 tuổi phạm tội Thuật ngữ “người chưa thành niên” đã được đổi thành “người dưới 18 tuổi” trong các quy định có liên quan của BLHS năm 2015 và BLTTHS năm 2015. Đây là một điểm mới trong quá trình lập pháp, việc thay đổi này có thể nhằm mục đích tránh sự mâu thuẫn giữa hai bộ luật trên với Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.