Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Nuôi cá rô phi đơn tính đực (Oreochromis niloticus) là một trong những hướng phát triển trọng điểm của ngành thủy sản nước ngọt tại Việt Nam nhờ đặc tính sinh trưởng nhanh, khả năng sử dụng thức ăn tạp, thích ứng tốt với các mô hình thâm canh và giá trị thương phẩm cao. Theo số liệu thống kê được tác giả trích dẫn trong công trình, năm 2012 sản lượng cá rô phi thu hoạch của Việt Nam đạt khoảng 100.000 tấn/năm, chưa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng nội địa. Tính đến năm 2014, cả nước có 236 cơ sở sản xuất kinh doanh giống cá rô phi, trong đó 44 cơ sở lưu giữ đàn cá bố mẹ với quy mô khoảng 940.000 con, sản xuất ra 455 triệu con giống. Mặc dù số lượng con giống đã cơ bản đáp ứng diện tích nuôi thương phẩm, chất lượng cá giống và tỷ lệ sống trong các giai đoạn ương nuôi ban đầu vẫn còn thấp do quy trình kỹ thuật tại nhiều cơ sở sản xuất địa phương chưa được tối ưu hóa đồng bộ.
Đặc biệt, giai đoạn chuyển tiếp từ cá bột 21 ngày tuổi (vừa hoàn thành chu kỳ xử lý chuyển đổi giới tính bằng hormone) lên cá hương cỡ 2-3 cm là giai đoạn nhạy cảm nhất trong vòng đời cá giống. Ở giai đoạn này, cá bắt đầu chuyển sang chế độ dinh dưỡng mới ("vào cám") và phải thích nghi với môi trường ao đất mở. Nhằm hoàn thiện kỹ thuật chăm sóc, quản lý và xác định mật độ nuôi phù hợp với điều kiện sinh thái vùng trung du miền núi phía Bắc, đề tài “Thực hiện quy trình kỹ thuật ương nuôi cá rô phi (O. niloticus) đơn tính đực từ 21 ngày tuổi đến cá cỡ 2-3 cm trong ao tại Trung tâm giống thủy sản Hòa Sơn huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên” đã được thực hiện.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài bao gồm hai nhiệm vụ cụ thể:
- Áp dụng quy trình kỹ thuật ương nuôi cá rô phi đơn tính đực từ 21 ngày tuổi lên cá cỡ 2 - 3 cm tại Trung tâm giống thủy sản Hòa Sơn, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
- Nắm vững và chuẩn hóa quy trình sản xuất giống cá rô phi đơn tính từ 21 ngày tuổi lên cá cỡ 2 - 3 cm cùng các thông số kỹ thuật cốt lõi trong quá trình nuôi, bao gồm: khẩu phần ăn, chế độ và thời gian cho ăn, cùng các biện pháp quản lý, kiểm soát môi trường ao ương.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus) đơn tính đực 21 ngày tuổi.
- Phạm vi không gian: Hệ thống ao ương nuôi tại Trung tâm giống thủy sản Hòa Sơn, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
- Phạm vi thời gian: Thí nghiệm và thu thập số liệu thực địa được tiến hành từ ngày 05/01/2015 đến ngày 24/05/2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Cơ sở sinh học và quy trình kỹ thuật
Khóa luận dựa trên đặc điểm phân loại học và sinh học của loài cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus thuộc họ Cichlidae, bộ Perciformes). Đây là loài cá ăn tạp, có chiều dài ruột gấp 7 lần chiều dài thân, khả năng tiêu hóa rộng từ mùn bã hữu cơ, sinh vật phù du đến thức ăn tinh. Cá có khả năng thích ứng nhiệt độ từ 20-35°C, pH nước 6,5-8,5, độ trong thích hợp 30-40 cm và chịu được ngưỡng oxy hòa tan (DO) xuống tới 1,0 mg/l (thậm chí mức giới hạn 0,1 mg/l theo Magid và cs, 1995).
Quy trình kỹ thuật được áp dụng bao gồm:
- Xử lý chuyển đổi giới tính đực: Cá bột sau khi tiêu hết noãn hoàng được đưa vào giai lưới mắt 1 mm đặt trong ao (mật độ 10.000 con/m²), cho ăn liên tục 21 ngày thức ăn bột cá nhạt mịn phối trộn 60 mg hormone 17α-methyltestosterone hòa tan trong 0,5 lít cồn 96% cùng 10 g vitamin C trên 1.000 g bột cá. Khẩu phần giảm dần từ 25% trọng lượng thân (5 ngày đầu), 20% (5 ngày tiếp theo), 15% (5 ngày kế) xuống 10% (6 ngày cuối), cho ăn 4 lần/ngày (8h, 11h, 14h, 16h), đạt tỷ lệ đực 95-100%.
- Chuẩn bị ao ương: Tháo cạn nước, vét bùn đáy, rải vôi bột (CaO) cải tạo đáy với liều lượng 7-10 kg/100 m², phơi đáy 3-5 ngày và lấy nước qua lưới lọc ngăn địch hại; bón phân vô cơ gây màu nước (0,8 kg urê + 0,5 kg lân/100 m²/tuần).
- Thành phần thức ăn ương nuôi (21 ngày tuổi lên 2-3 cm): Hỗn hợp bột mịn gồm 20% bột cá nhạt, 40% bột đỗ tương (hoặc khô dầu đỗ tương), 39% cám gạo và 1% khoáng vi lượng. Trong 7 ngày đầu, thức ăn được nấu chín, hòa nước té đều khắp ao với liều lượng 0,2-0,3 kg/10.000 con; từ tuần thứ hai cho ăn thức ăn dạng bột sống rải đều theo chiều gió.
Phương pháp nghiên cứu và xử lý số liệu
Nghiên cứu áp dụng phương pháp thực nghiệm tại hiện trường kết hợp quan sát, ghi chép nhật ký hàng ngày trên 3 đợt ương nuôi (tổng cộng 8 lượt ao thí nghiệm):
- Đo đạc môi trường: Đo nhiệt độ nước 2 lần/ngày (sáng và chiều) bằng nhiệt kế tại 4 điểm trong ao; đo độ trong 1 lần/ngày bằng đĩa Secchi; xác định pH bằng giấy chỉ thị màu quỳ tím; đánh giá cảm quan định kỳ đối với oxy hòa tan (DO) và khí độc sulfide ($H_2S$).
- Phương pháp cân, đo sinh trưởng: Định kỳ hàng tuần bắt ngẫu nhiên mẫu cá (n = 30 con/ao), sử dụng cân điện tử và cân đồng hồ để xác định khối lượng, dùng thước thẳng (đơn vị cm) đo chiều dài toàn thân ($L_{max}$, $L_{min}$, $L_{TB}$).
- Công thức tính toán:
- Sinh trưởng tuyệt đối ($A$):
$$A = \frac{V_2 - V_1}{t_2 - t_1} \quad (\text{g/con/ngày})$$
- Sinh trưởng tương đối ($R$):
$$R = \frac{V_2 - V_1}{\frac{V_1 + V_2}{2}} \times 100% \quad (%)$$
- Tỷ lệ nuôi sống ($TL$):
$$TL = \frac{\text{Số cá thu}}{\text{Số cá thả ban đầu}} \times 100% \quad (%)$$
- Xử lý thống kê: Sử dụng phương pháp thống kê sinh vật học theo tài liệu của Nguyễn Văn Thiện (2008) và phần mềm Minitab 14 để tính các tham số: giá trị trung bình cộng ($\bar{X}$), độ lệch chuẩn ($s$), sai số trung bình ($m_x$) và hệ số biến dị ($C_v$).
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Trình bày tính cấp thiết của việc phát triển cá rô phi đơn tính đực tại Việt Nam, phân tích thực trạng thiếu hụt cá giống chất lượng cao tại các tỉnh miền núi phía Bắc, xác định rõ 2 mục tiêu, ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn của đề tài đối với công tác đào tạo kỹ sư Nuôi trồng thủy sản.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Hệ thống hóa cơ sở phân loại học, nguồn gốc di nhập của các dòng cá rô phi tại Việt Nam (rô phi đen nhập năm 1951, rô phi vằn Đài Loan nhập năm 1973, dòng GIFT và Thái Lan nhập năm 1994). Tổng quan chi tiết 5 phương pháp tạo đàn cá đơn tính đực: phương pháp thủ công (phân loại hình thái khi cá đạt 5-10 g), phương pháp lai xa, phương pháp tạo cá siêu đực (YY), phương pháp ngâm dung dịch hormone 17α-methyltestosterone và phương pháp phối trộn hormone vào thức ăn. Đồng thời, chương này tổng kết các yêu cầu kỹ thuật về cải tạo ao, chế độ dinh dưỡng, quản lý các yếu tố thủy lý - thủy hóa và các biện pháp phòng trị bệnh ký sinh trùng thường gặp (trùng bánh xe, sán lá đơn chủ).
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Quy định chi tiết địa điểm nghiên cứu tại Trung tâm giống thủy sản Hòa Sơn, thời gian thực hiện (05/01/2015 – 24/05/2015), mô tả công thức phối trộn thức ăn và định mức cho ăn theo tuần tuổi.
| Thành phần thức ăn |
Tỷ lệ phối trộn (%) |
| Bột cá nhạt |
20% |
| Bột đỗ tương / Khô dầu đỗ tương |
40% |
| Cám gạo |
39% |
| Vi khoáng |
1% |
Chế độ cho ăn được thiết lập 3 lần/ngày (vào các khung giờ 8h, 13h và 16h) với tỷ lệ thức ăn điều chỉnh theo tuần tuổi: tuần 1-2 cho ăn 7-8% khối lượng đàn; tuần 3-4 cho ăn 6-7%; tuần 4-6 cho ăn 5-6%.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Mật độ và bố trí thí nghiệm
Nghiên cứu tiến hành khảo sát 3 đợt ương nuôi trên 8 lượt ao với các mật độ tăng dần nhằm xác định mật độ nuôi tối ưu:
| Đợt ương |
Thời gian thực hiện |
Ao thí nghiệm |
Diện tích ($m^2$) |
Mật độ thả (con/$m^2$) |
Số lượng cá thả (con) |
| Đợt 1 |
10/03/2015 – 30/03/2015 |
B1 |
360 |
100 |
36.000 |
|
|
B2 |
410 |
100 |
41.000 |
| Đợt 2 |
01/04/2015 – 19/04/2015 |
B3 |
435 |
130 |
56.550 |
|
|
B4 |
420 |
130 |
54.600 |
|
|
B5 |
400 |
130 |
52.000 |
| Đợt 3 |
21/04/2015 – 10/05/2015 |
C1 |
500 |
150 |
75.000 |
|
|
C2 |
500 |
150 |
75.000 |
|
|
C3 |
480 |
150 |
72.000 |
Diễn biến các yếu tố môi trường nước
Các yếu tố môi trường trong suốt 3 đợt ương nuôi duy trì ở mức thuận lợi cho cá rô phi sinh trưởng:
- Nhiệt độ nước: Trung bình toàn bộ giai đoạn đạt 21,7°C (thấp nhất 16,1°C vào đầu tháng 3, cao nhất 29,1°C vào tháng 5). Nhiệt độ trung bình Đợt 1 là 20,3°C; Đợt 2 là 21,1°C; Đợt 3 là 23,6°C.
- Độ pH: Rất ổn định, duy trì ở mức trung bình 7,2 trên cả 3 đợt ương nuôi nhờ đáy ao đất thịt pha cát và kỹ thuật xử lý vôi bột trước khi cấp nước.
- Độ trong: Tăng dần theo mùa, đạt 32,8 cm (Đợt 1), 35,3 cm (Đợt 2) và 37,5 cm (Đợt 3), trung bình đạt 35,2 cm.
- Oxy hòa tan và khí độc: Đợt 1 và Đợt 2 không ghi nhận hiện tượng cá nổi đầu. Ở tuần cuối của Đợt 3, cá có hiện tượng nổi đầu nhẹ vào sáng sớm tại ao C1 và C3 do lượng chất hữu cơ tích lũy và mật độ cao làm DO sáng sớm hạ dưới 1,5 mg/l. Nồng độ $H_2S$ ước tính duy trì ở mức an toàn 0,02-0,05 mg/l nhờ chế độ cấp thoát nước định kỳ.
Tốc độ tăng trưởng khối lượng và chiều dài
Tốc độ tăng trưởng của cá rô phi tăng dần theo nhiệt độ môi trường và tuổi cá. Ở Đợt 1, do thời tiết cuối xuân còn lạnh và có mưa kéo dài, cá ăn chậm hơn; sang Đợt 2 và Đợt 3, thời tiết ấm dần giúp cá bắt mồi mạnh và tăng trưởng nhanh.
| Đợt |
Ao |
Sinh trưởng tích lũy tuần 1 (g) |
Sinh trưởng tích lũy tuần 3 (g) |
Sinh trưởng tuyệt đối ($A$, g/con/ngày) |
Sinh trưởng tương đối ($R$, %) |
Chiều dài TB kết thúc (cm) |
Chiều dài $L_{max} - L_{min}$ (cm) |
| Đợt 1 |
B1 |
0,13 |
0,42 |
0,01 – 0,05 |
10,6 – 15,0% |
2,60 |
3,1 – 2,2 |
|
B2 |
0,11 |
0,28 |
0,008 – 0,03 |
10,7 – 14,1% |
2,70 |
3,1 – 2,0 |
| Đợt 2 |
B3 |
0,12 |
0,32 |
0,008 – 0,04 |
10,0 – 15,2% |
2,40 |
3,3 – 2,5 |
|
B4 |
0,13 |
0,36 |
0,008 – 0,05 |
9,4 – 16,7% |
2,70 |
3,1 – 2,7 |
|
B5 |
0,14 |
0,40 |
0,01 – 0,06 |
10,0 – 17,5% |
2,90 |
3,2 – 2,7 |
| Đợt 3 |
C1 |
0,15 |
0,45 |
0,01 – 0,07 |
9,5 – 18,5% |
2,90 |
3,2 – 2,7 |
|
C2 |
0,15 |
0,38 |
0,01 – 0,06 |
10,5 – 18,6% |
2,80 |
3,1 – 2,6 |
|
C3 |
0,13 |
0,43 |
0,01 – 0,06 |
12,9 – 19,3% |
2,90 |
3,1 – 2,5 |
Chiều dài trung bình toàn đàn khi xuất bán đạt 2,65 cm ở Đợt 1; 2,66 cm ở Đợt 2 và 2,86 cm ở Đợt 3 sau chu kỳ ương từ 19-20 ngày.
Tỷ lệ nuôi sống
Tỷ lệ nuôi sống có xu hướng tăng dần qua các đợt ương do điều kiện thời tiết ấm dần và sự ổn định của môi trường nuôi:
| Đợt ương |
Ao thí nghiệm |
Số lượng thả (con) |
Số lượng thu (con) |
Tỷ lệ sống (%) |
Tỷ lệ sống TB đợt (%) |
| Đợt 1 |
B1 |
36.000 |
25.560 |
71,0% |
72,4% |
|
B2 |
41.000 |
30.053 |
73,3% |
|
| Đợt 2 |
B3 |
56.550 |
49.650 |
87,8% |
89,5% |
|
B4 |
54.600 |
49.686 |
91,0% |
|
|
B5 |
52.000 |
48.100 |
92,5% |
|
| Đợt 3 |
C1 |
75.000 |
66.375 |
88,5% |
89,5% |
|
C2 |
75.000 |
69.375 |
92,5% |
|
|
C3 |
72.000 |
63.072 |
87,6% |
|
Tỷ lệ sống trung bình của cả 3 đợt đạt 85,3%. Tổng lượng thức ăn tinh tiêu thụ qua các đợt lần lượt là: Đợt 1 tiêu thụ 12,6 kg; Đợt 2 tiêu thụ 22,5 kg; Đợt 3 tiêu thụ 27,0 kg.
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Tổng kết toàn bộ các chỉ tiêu kỹ thuật đạt được, khẳng định tính khả thi của mô hình và đưa ra khuyến nghị áp dụng mật độ 150 con/m² cho các cơ sở sản xuất giống thủy sản tại các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc.
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính
- Xác định mật độ ương tối ưu: Mật độ 150 con/m² được chứng minh là phù hợp nhất trong điều kiện ao đất tại Thái Nguyên, vừa đảm bảo tốc độ sinh trưởng chiều dài (đạt 2,86 cm sau 20 ngày), vừa đạt tỷ lệ sống cao (89,5%), giúp tối ưu hóa diện tích mặt nước so với mật độ 100 con/m² (72,4%) và 130 con/m² (89,5%).
- Tỷ lệ sống: Tỷ lệ sống trung bình toàn đợt đạt 85,3%, kích thước cá hương thu hoạch đồng đều từ 2,65 đến 2,86 cm, hoàn thành tốt chỉ tiêu kỹ thuật đề ra (cỡ 2-3 cm).
- Chuẩn hóa thông số môi trường và thức ăn: Xác định ngưỡng môi trường nước ao ương ổn định tại cơ sở với nhiệt độ trung bình 21,7°C, pH 7,2, độ trong 35,2 cm. Tổng lượng thức ăn sử dụng cho từng quy mô ao được kiểm soát chặt chẽ, không gây dư thừa làm ô nhiễm nền đáy.
Giải pháp kỹ thuật tác giả đề xuất
- Xử lý thức ăn giai đoạn đầu: Bắt buộc nấu chín thức ăn dạng bột mịn trong 7 ngày đầu để tăng khả năng tiêu hóa và giảm hao hụt khi cá chuyển từ thức ăn tự nhiên sang thức ăn nhân tạo; rải thức ăn theo chiều gió để phân tán đều khắp mặt ao.
- Quản lý ao nuôi: Duy trì bón vôi bột cải tạo đáy 7-10 kg/100 m² và phơi đáy 3-5 ngày giữa các chu kỳ ương; định kỳ cấp thêm nước mới để hạn chế tích tụ khí độc và duy trì màu nước nõn chuối.
- Bổ sung vi chất: Tác giả khuyến nghị bổ sung thêm vitamin B1, vitamin C và men vi sinh vào khẩu phần ăn để tăng sức đề kháng cho cá trong giai đoạn "vào cám".
Đóng góp thực tiễn của đề tài
Công trình cung cấp số liệu thực nghiệm hoàn chỉnh về chu kỳ ương cá rô phi đơn tính đực tại cơ sở sản xuất giống địa phương ở Thái Nguyên, đóng vai trò là tư liệu kỹ thuật phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất giống cá nước ngọt quy mô vừa và nhỏ tại khu vực phía Bắc.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế được ghi nhận trong văn bản
- Cơ sở vật chất và trang thiết bị đo đạc: Trung tâm giống thủy sản Hòa Sơn còn thiếu các thiết bị đo nồng độ oxy hòa tan (DO) và khí độc ($H_2S$) chuyên dụng tự động, việc kiểm soát chủ yếu dựa trên kinh nghiệm cảm quan của cán bộ kỹ thuật và công nhân lành nghề.
- Tác động của thời tiết đầu vụ: Đợt ương nuôi đầu tiên (tháng 3) chịu ảnh hưởng của thời tiết mưa lạnh kéo dài, dẫn đến cá bắt mồi kém và tỷ lệ sống ở đợt 1 chỉ đạt 72,4%.
- Hiện tượng nổi đầu ở mật độ cao: Trong tuần cuối của Đợt 3 (mật độ 150 con/m²), chất hữu cơ tích lũy từ chất thải và thức ăn khiến cá có hiện tượng nổi đầu nhẹ vào sáng sớm tại các ao C1 và C3.
Hướng nghiên cứu và hoàn thiện tiếp theo
- Cần đầu tư hệ thống máy đo môi trường chuyên dụng để định lượng chính xác hàm lượng DO và các loại khí độc ($NH_3$, $H_2S$) theo từng giờ trong ngày.
- Nghiên cứu áp dụng kỹ thuật cho cá đẻ trong giai và ấp trứng trong bình vây/khay ấp để thu được đàn cá bột đồng đều kích cỡ hơn so với phương pháp cho đẻ trực tiếp trong ao đất hiện tại.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo chuyên ngành hữu ích cho:
- Sinh viên và giảng viên: Chuyên ngành Nuôi trồng thủy sản, Bác sĩ thú y thủy sản, Chăn nuôi Thú y tại các trường đại học nông lâm làm tài liệu tham khảo về phương pháp bố trí thí nghiệm thực địa, công thức tính toán tăng trưởng sinh học ($A, R$) và xử lý thống kê bằng Minitab.
- Kỹ thuật viên và chủ cơ sở trại giống: Tham khảo trực tiếp công thức phối trộn thức ăn bột mịn (bột cá nhạt, đỗ tương, cám gạo, vi khoáng), kỹ thuật chuyển đổi giới tính bằng 17α-methyltestosterone và định mức mật độ thả 150 con/m² để áp dụng vào thực tế sản xuất giống cá rô phi tại các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc.
Câu hỏi thường gặp
1. Công thức phối trộn thức ăn và chế độ cho ăn trong 7 ngày đầu của cá rô phi giai đoạn 21 ngày tuổi được quy định như thế nào?
Thức ăn được phối trộn theo tỷ lệ: 20% bột cá nhạt, 40% bột đỗ tương (hoặc khô dầu đỗ tương), 39% cám gạo và 1% vi khoáng dạng bột mịn. Trong 7 ngày đầu tiên, thức ăn bắt buộc phải được nấu chín, hòa tan vào nước rồi té đều khắp mặt ao với định mức 0,2-0,3 kg/10.000 con cá, chia làm 3 lần/ngày vào các thời điểm 8h, 13h và 16h.
2. Mật độ ương nuôi nào cho hiệu quả kinh tế và tận dụng diện tích ao nuôi tốt nhất tại cơ sở?
Kết quả nghiên cứu kết luận mật độ 150 con/m² là tối ưu nhất cho các tỉnh miền núi phía Bắc. Mật độ này cho tỷ lệ sống cao (89,5%), chiều dài cá đạt 2,86 cm sau 20 ngày, tránh được sự lãng phí diện tích và chi phí đầu tư ao nuôi so với mật độ 100 con/m² và 130 con/m².
3. Diễn biến nhiệt độ nước đã ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của cá giữa các đợt ương như thế nào?
Ở Đợt 1 (tháng 3), nhiệt độ nước trung bình thấp (20,3°C, có thời điểm xuống 16,1°C kèm mưa rào) khiến cá sinh trưởng chậm, chiều dài kết thúc đạt 2,65 cm và tỷ lệ sống chỉ đạt 72,4%. Sang Đợt 2 (21,1°C) và Đợt 3 (23,6°C, cao nhất 29,1°C vào tháng 5), nhiệt độ ấm dần tạo điều kiện tối ưu giúp cá bắt mồi mạnh, tăng trưởng tương đối đạt tới 18,5-19,3% và chiều dài đạt 2,86 cm.
4. Tỷ lệ sống trung bình sau 3 đợt ương đạt bao nhiêu và nguyên nhân gây hao hụt chính là gì?
Tỷ lệ sống trung bình của cả 3 đợt đạt 85,3% (Đợt 1: 72,4%; Đợt 2: 89,5%; Đợt 3: 89,5%). Nguyên nhân gây hao hụt chủ yếu xảy ra ở giai đoạn đầu khi cá mới chuyển từ giai xử lý ra ao đất ("vào cám"), phải chịu sự thay đổi đột ngột về thức ăn và điều kiện môi trường nước.
5. Kỹ thuật chuyển đổi giới tính cá rô phi đực bằng hormone tại cơ sở sử dụng liều lượng nào?
Cá bột sau khi hết noãn hoàng được đưa vào giai lưới nuôi với mật độ 10.000 con/m², cho ăn liên tục 21 ngày bằng thức ăn phối trộn 60 mg 17α-methyltestosterone hòa trong 0,5 lít cồn 96% và 10 g vitamin C trên 1.000 g bột cá nhạt mịn, cho ăn 4 lần/ngày với khẩu phần giảm dần từ 25% xuống 10% trọng lượng thân, đạt tỷ lệ cá đực từ 95% đến 100%.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Tạ Thị Hoan đã thực hiện quy trình kỹ thuật ương nuôi cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus) đơn tính đực từ 21 ngày tuổi lên cỡ 2-3 cm tại Trung tâm giống thủy sản Hòa Sơn, tỉnh Thái Nguyên. Nghiên cứu xác định mật độ ương nuôi tối ưu là 150 con/m², mang lại tỷ lệ nuôi sống trung bình đạt 85,3% và chiều dài thương phẩm đạt 2,65-2,86 cm sau chu kỳ 19-20 ngày. Các thông số môi trường, khẩu phần thức ăn và quy trình chăm sóc được chuẩn hóa trong công trình là cơ sở thực nghiệm cho các trại sản xuất giống thủy sản nước ngọt tại khu vực miền núi phía Bắc.