Đặt vấn đề Ngành nuôi trồng thủy sản là ngành sản xuất vật chất sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên như đất đai, diện tích mặt nước, thời tiết khí hậu… để sản xuất ra các loại sản phẩm thủy sản phục vụ cho nhu cầu đời sống của con người. Ngành nuôi trồng thủy sản có khả năng sản xuất ra nhiều loại thực phẩm giầu dinh dưỡng cho nhân loại, cung cấp nhiều loại nguyên liệu, dược liệu cho các ngành công nghiệp, làm thức ăn cho chăn nuôi gia súc. Trong lịch sử phát triển nghề cá, sự xuất hiện và phát triển của ngành nuôi trồng thủy sản đã đánh dấu khả năng khai thác và chinh phục rất nhiều vùng nước tự nhiên của nhân loại. Cùng với sự bùng nổ dân số trên thế giới một cách nhanh chóng, nhu cầu về các loại động vật thủy sản ngày càng tăng mạnh và chỉ có phát triển mạnh ngành nuôi trồng thủy sản thì mới đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng cao về các loại sản phẩm thủy sản.
Trong nuôi trồng thủy sản nước ngọt thì nuôi cá rô phi đơn tính đực là một hướng phát triển mới, có nhiều tiềm năng và hứa hẹn đem lại nhiều lợi nhuận cho người làm nghề chăn nuôi cá. Vì cá rô phi đơn tính sinh trưởng phát triển nhanh, chất lượng thịt thơm ngon, có đặc tính nổi trội là ăn tạp, có khả năng thâm canh cao, dễ áp dụng cho các hình thức nuôi khác nhau. Năm 2012 nước ta có tổng sản lượng cá rô phi thu hoạch chỉ vào khoảng 100.000 tấn/năm, số lượng này không đủ đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng trong nước. Vì vậy, đẩy mạnh và phát triển sản xuất cá rô phi đơn tính nhằm đáp ứng đủ cho nhu cầu tiêu dùng là cần thiết.
Trong quy trình kỹ thuật sản xuất cá rô phi đơn tính, sinh sản nhân tạo và ương nuôi cá giống cá rô phi là một giai đoạn quan trọng quyết định đến sự phát triển và nuôi cá thương phẩm đạt năng xuất và chất lượng cao. Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và 2 PTNT các địa phương, năm 2014, cả nước có 236 cơ sở sản xuất kinh doanh giống cá rô phi, trong đó có 44 cơ sở nuôi giữ đàn cá rô phi bố mẹ với khoảng 940.000 cá bố mẹ, sản xuất được 455 triệu con giống. Số lượng cá giống này đủ cung cấp cho sản xuất cá rô phi thương phẩm hiện nay nhưng chất lượng cá giống còn hạn chế. Nguyên nhân chính là do trong sinh sản nhân tạo đặc biệt là quá trình ương nuôi cá giống, tỷ lệ nuôi sống còn rất thấp có thể do chưa thực hiện đúng quy trình kỹ thuật.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu kỹ thuật ương nuôi giống cá rô phi đơn tính là rất cần thiết nhằm tìm ra được quy trình kỹ thuật sản xuất giống cá rô phi đơn tính tốt nhất. Xuất phát từ lý do trên em tiến hành thực hiện đề tài “Thực hiện quy trình kỹ thuật ương nuôi cá rô phi (O. niloticus) đơn tính đực từ 21 ngày tuổi đến cá cỡ 2 - 3cm trong ao tại Trung tâm giống thủy sản Hòa Sơn huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên”. Mục đích của đề tài - Áp dụng quy trình kỹ thuật ương nuôi cá rô phi đơn tính đực từ 21 ngày tuổi lên cá cỡ 2 - 3cm tại Trung tâm giống thủy sản Hòa Sơn huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên.
- Sau quá trình thực tập tại cơ sở phải nắm được quy trình sản xuất giống cá rô phi đơn tính từ 21 ngày tuổi lên cá 2 - 3cm, các yếu tố kỹ thuật cần thiết trong quá trình nuôi như: chế độ cho ăn, thời gian cho ăn, khẩu phần ăn, quản lý môi trường ương nuôi. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Các kết quả nghiên cứu đạt được là những tư liệu khoa học về quy trình kỹ thuật sản xuất giống cá rô phi đơn tính phục vụ cho nghiên cứu và học tập của giảng viên và sinh viên trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản. Ý nghĩa thực tiễn - Giúp sinh viên làm quen với công tác nghiên cứu khoa học và nâng cao kiến thức về quy trình kỹ thuật sản xuất giống cá rô phi đơn tính tại các cơ sở sản xuất giống cá nước ngọt, từ đó giúp sinh viên củng cố và nâng cao kiến thức chuyên môn cho bản thân.
- Giúp bản thân vận dụng vào thực tiễn các kiến thức đã học, rèn luyện tay nghề nâng cao kinh nghiệm cho bản thân. - Kết quả của đề tài là cơ sở thực tiễn quan trọng giúp các cơ sở sản xuất cá giống ứng dụng quy trình kỹ thuật này trong sản xuất giống cá rô phi đơn tính nhằm sản xuất ra giống cá rô phi đơn tính có chất lượng tốt nhất để nuôi thương phẩm cho năng suất và chất lượng cao. 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2.
Đặc điểm sinh vật học của cá rô phi 2. Nguồn gốc và phân bố Cá rô phi có ngồn gốc từ châu Phi (lưu vực sông Nile, Ai Cập). Cá rô phi là tên gọi chung cho khoảng 100 loài, trong đó khoảng 10 loài có giá trị kinh tế và loài cá rô phi vằn O. niloticus là loài nuôi phổ biến nhất trên thế giới và ngày càng chiếm ưu thế rõ rệt trong nuôi trồng thủy sản, cá rô phi đỏ (diêu hồng) là con lai giữa cá rô phi vằn và cá rô phi đen cũng được nuôi rộng rãi.
Cá rô phi có hệ thống phân loại như sau: Ngành: Verteberata Lớp: Osteichthyes Lớp phụ: Acdinopterggii Bộ cá vược: Perciformes Họ: Cichlidae Giống: Oreochromis Loài: Oreochromis niloticus. Cá rô phi có tên gọi chung của khoảng 80 loài cá và căn cứ vào đặc điểm sinh sản, các nhà nghiên cứu đã phân loại thành 3 giống chính: - Tilapi: Khi đẻ cần có giá thể để trứng bám. - Sarotherodon: Cá bố hoặc cá mẹ hoặc cả cá bố mẹ cùng ấp trứng trong miệng. - Oreochromis: Chỉ có cá mẹ ấp trứng trong miệng (Mancistosh và Little, 1995) [16].
5 Trong 3 giống trên có khoảng 8 - 9 loài có giá trị trong nuôi trồng thủy sản, trong các loài có giá trị, cá rô phi vằn O. niloticus, cá rô phi xanh O. aureus và cá rô phi hồng O. reochromis sp được coi là quan trọng nhất hiện nay, đang được nuôi phổ biến ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới.
Ở Việt Nam, cá rô phi được đưa vào giữa năm 1951 tại vùng tạm bị Pháp chiếm đóng. Cá rô phi được di nhập vào nước ta lần đầu tiên là cá rô phi đen Oreochromis mossambicus. Cá rô phi đen thích ứng cao với các điều kiện nuôi khác nhau, có tỷ lệ sống cao ở môi trường ao nuôi kể cả khi có hàm lượng oxy hòa tan thấp. Tuy nhiên, cá chậm lớn, đẻ nhiều và sớm, kích cỡ cá nhỏ do vậy không được người nuôi ưa thích (Guerrero và cs (1974) [13].
Năm 1973 cá rô phi vằn Oreochromis niloticus được nhập từ Đài Loan vào nước ta, cá rô phi vằn nhanh lớn, nhịp đẻ thưa hơn so với cá rô phi đen, cá nhanh chóng trở thành đối tượng nuôi có triển vọng, được nuôi rộng rãi trong cả nước. Tuy nhiên, do công tác giữ giống thuần không tốt nên hiện tượng lai tạp giữa cá rô phi vằn và cá rô phi đen xảy ra khá phổ biến làm suy giảm chất lượng cá giống. Năm 1994, Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I đã nhập nội một số giống cá rô phi: Cá rô phi vằn dòng Thái Lan, cá rô phi vằn dòng GIFT chọn giống thế hệ thứ 5, cá rô phi vằn dòng Swansea và cá rô phi xanh O. aureus từ Philipin, cá rô phi hồng Oreochromis sp từ Đài Loan và Thái Lan.
Các giống cá rô phi nhập nội thử nghiệm cho thấy: Cá rô phi vằn dòng GIFT, dòng Thái Lan, cá rô phi hồng đã thể hiện ưu thế về sinh trưởng, thích ứng với điều kiện nuôi ở nước ta (Lê Quang Long, 1961) [4]. Đặc điểm hình thái Cá rô phi đen Hình thái cá rô phi đen (O. mossambicus): Thân cao, dài gần có dạng bầu dục, dẹp bên. Cuống đuôi ngắn, đầu to mõm rộng hơi cong vếch lên.
Hàm trên hơi nhô. 6 Màu sắc ở con đực chưa thành thục trắng bạc, có 2 - 5 sọc ngang và tập chung ở giữa thân, các vây màu sám. Khi thành thục đầu và thân màu đen. Dưới đầu, bụng và vây ngực trắng, các vây khác đen, viền vây đuôi, hậu môn màu đỏ.
Tập tính ăn tạp, đẻ nhanh, dày không khống chế được mật độ. Kích thước thu hoạch nhỏ, giá trị kinh tế thấp.1: Hình thái ngoài của cá rô phi đen (O. mossambicus) Cá rô phi vằn Cá rô phi vằn O. niloticus có đặc điểm thân ngắn, mình cao, vảy lớn dày và cứng.
Màu sắc thay đổi theo môi trường, trên thân có nhiều sọc đen. Trên đuôi và vây có chấm hoa xếp theo thứ tự thành vạch đen đều đặn. Có hai đường bên: Đường thứ nhất ở phía trên bắt đầu từ sau nắp mang, ở vào hàng vảy thứ 4 kể từ vây lưng xuống có 22 vảy. Đường thứ hai: ở phía đuôi bắt đầu từ hàng vảy thứ 7 từ vây lưng xuống có 14 vảy.
Toàn thân phủ vẩy sáng bóng, phần lưng có mầu xanh nhạt, phần bụng có mầu trắng sữa hoăc xanh nhạt. Trên thân mình có 7 - 9 vạch đậm chạy từ lưng xuống bụng. Vậy đuôi có màu sọc đen đậm song song từ phía trên xuống phía dưới và phân bố khắp vây đuôi. Vây lưng có những sọc trắng chạy song song trên nền xám đen.
Viền vây lưng và vây đuôi có viền hồng nhạt. Đầu cá đực to và múp hơn đầu cá cái, xương chán cá đực hơi lõm xuống. 7 Ruột cá rô phi dài gấp 7 lần chiều dài thân, dạ dày bé. Cá rô phi vằn là loài cá có kích thước lớn, tốc độ tăng trưởng nhanh, đẻ thưa, chất lượng thịt thơm ngon.2: Hình thái ngoài của cá rô phi vằn (O.
Đặc điểm sinh sản Cá rô phi thường phát dục sớm, trong tự nhiên khi cá được 4 - 5 tháng tuổi đã có khả năng tham gia sinh sản. Cá rô phi có thể sinh sản tới 12 lần trong một năm (Macintosh và cs, 1995) [16]. Khi nhiệt độ nước xuống dưới 200C cá ngừng sinh sản. Sự hình thành và phát triển tuyến sinh dục của cá rô phi phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: tuổi cá, cỡ cá, chế độ dinh dưỡng, nhiệt độ nước, độ muối.