chương 1, người viết đã giới thiệu sơ lược về lịch sử hình thành, bộ máy tổ chức, tình hình nhân sự của chi nhánh Công ty TNHH Kiểm toán Sao Việt. Ngoài ra, người viết nêu ra những loại hình dịch vụ mà công ty cung cấp, giúp người đọc có những thông tin tổng quát về Công ty, vị thế của Công ty trong thị trường kiểm toán hiện nay, từ đó đưa ra phương hướng phát triển của SVC trong tương lai. 11 do an CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNG TỒN KHO VÀ KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC HÀNG TỒN KHO Khái niệm báo cáo tài chính và kiểm toán BCTC Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200 (VSA 200) thì: BCTC là hệ thống báo cáo được lập theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành phản ánh các thông tin kinh tế; tài chính chủ yếu của đơn vị. Theo chế độ kế toán nước ta, các BCTC của đơn vị bao gồm: Bảng cân đối kế toán, Bảng Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Bảng báo cáo luân chuyển tiền tệ và thuyết minh BCTC.
Kiểm toán BCTC là việc thu thập và đánh giá các bằng chứng kiểm toán của các KTV nhằm xác minh tính trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu của BCTC. Khái quát chung về hàng tồn kho có ảnh hưởng đến kiểm toán: 2.1 Khái niệm chung: Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 02 “Hàng tồn kho” thì: “Hàng tồn kho là những tài sản: - Được giữ bán trong kỳ sản xuất kinh doanh bình thường - Đang trong quá trình sản xuất kinh doanh dở dang - Nguyên liệu, vật liệu, các loại công cụ, dụng cụ để sử dụng trong quá trình sản xuất, kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ” Theo Thông tư 200/2014/TT-BTC thì Hàng tồn kho của DN là những tài sản được mua vào để sản xuất hoặc để bán trong kỳ sản xuất, kinh doanh bình thường, gồm: - Hàng mua đang đi đường - Nguyên liệu, vật liệu; Công cụ, dụng cụ; - Sản phẩm dở dang; - Thành phẩm, hàng hóa; hàng gửi bán; - Hàng hóa được lưu giữ tại kho bảo thuế của doanh nghiệp. 12 do an Đối với sản phẩm dở dang, nếu thời gian sản xuất, luân chuyển vượt quá một chu trình kinh doanh thông thường thì không được trình bày là hàng tồn kho trên Bảng cân đối kế toán mà trình bày là tài sản dài hạn. Đối với vật tư, thiết bị, phụ tùng thay thế có thời gian dự trữ trên 12 tháng hoặc hơn 1 chu kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường thì không được trình bày là hàng tồn kho trên Bảng cân đối kế toán mà trình bày là tài sản dài hạn.2 Đặc điểm hàng tồn kho ảnh hưởng đến kiểm toán Một là, HTK là một bộ phận của tài sản ngắn hạn, chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng tài sản lưu động của doanh nghiệp, thường phát sinh nhiều các nghiệp vụ, dễ xảy ra những sai sót và gian lận.
Do đó ảnh hưởng đến mức độ trung thực và hợp lý của BCTC. Hai là, HTK được hình thành từ nhiều nguồn, với chi phí cấu thành nên giá gốc HTK khác nhau. Việc xác định giá trị HTK ảnh hưởng trực tiếp tới giá vốn hàng bán do đó ảnh hưởng trọng yếu tới lợi nhuận thuần trong năm của doanh nghiệp. Điều này cũng ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình kiểm toán.
Ba là, công việc kiểm tra chất lượng, giá trị HTK luôn là công việc khó khăn và phức tạp. Nhiều khoản mục HTK rất khó phân loại và định giá như các linh kiện điện tử phức tạp, các công trình xây dựng dở dang.Trong quá trình kiểm toán cần phải có các chuyên gia trong các lĩnh vực khác nhau như vàng, đá quý, hóa chất, xây dựng.Việc sử dụng ý kiến chuyên gia cũng làm tăng chi phí kiểm toán. Bốn là, HTK được bảo quản, cất trữ ở nhiều nơi khác nhau, do nhiều người quản lý. Do đó, công việc kiểm soát, kiểm kê, quản lý và sử dụng HTK gặp nhiều khó khăn, đôi khi sẽ bị nhầm lẫn, sai sót và gian lận.
Năm là, khoản mục hàng tồn kho liên quan trực tiếp đến nhiều khoản mục khác trong quá trình kiểm toán: khoản mục tiền, phải trả người bán, doanh thu, giá vốn hàng bán… Do vậy, khi kiểm toán khoản mục này, KTV cần xem xét chúng trong mối liên hệ với các khoản mục khác, đặc biệt là các sai sót mang tính dây chuyền, khả năng tham chiếu và sử dụng kết quả kiểm toán của các khoản mục khác liên quan. Cuối cùng, khoản mục HTK thường đa dạng và có thể chịu ảnh hưởng lớn bởi hao mòn vô hình và hao mòn hữu hình như bị hư hỏng trong thời gian nhất định, dễ 13 do an bị lỗi thời… gây khó khăn nhất định đối với kiểm toán viên trong quá trình quan sát, đánh giá và thực hiện các khảo sát cần thiết khi kiểm toán khoản mục HTK. Do vậy, việc hiểu rõ về đặc điểm của khoản mục HTK giúp KTV nhận biết các rủi ro có thể xảy ra liên quan tới HTK. Từ đó, KTV có thể xác định được khối lượng công việc kiểm toán cũng như mục tiêu kiểm toán phù hợp.
Những nghiệp vụ liên quan đến HTK và quy trình vận động của HTK: Nghiệp vụ liên quan đến hàng tồn kho: HTK có các nghiệp vụ như mua hàng, nhận hàng, nhập kho, xuất hàng, sản xuất, lưu kho thành phẩm và xuất hàng đi tiêu thụ. Quy trình vận động của HTK: Quy trình vận động của HTK bắt đầu từ nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, sản phẩm dở dang rồi đến thành phẩm, hàng hóa.1 - Quy trình vận động hàng tồn kho (1), (2) , (3) , (4) , (5) , (6) : Đối với doanh nghiệp sản xuất. (1), (7) : Đối với doanh nghiệp thương mại, dịch vụ. Tùy vào loại hình kinh doanh là sản xuất hay thương mại, dịch vụ để thực hiện quy trình vận động hàng tồn kho.
Nguyên tắc kế toán HTK trong các doanh nghiệp: 14 do an 2.1 Nguyên tắc xác định giá trị HTK: Theo VAS 02 nêu rõ, HTK được tính theo nguyên tắc giá gốc. Trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá gốc thì phải tính theo giá trị thuần có thể thực hiện được. Trong đó: Giá trị thuần có thể thực hiện được: Là giá bán ước tính của HTK trong kỳ sản xuất, kinh doanh bình thường (trừ) – chi phí ước tính để hoàn thành sản phẩm và chi phí ước tính cần thiết cho việc tiêu thụ chúng.2 - Phương pháp xác định giá gốc hàng tồn kho (Tóm tắt theo VAS 02 – Chuẩn mực kiểm toán khoản mục Hàng tồn kho) 15 do an 2.2 Ghi nhận HTK Về hạch toán HTK: Tổ chức hạch toán HTK là thiết kế khối lượng công tác hạch toán trên các loại chứng từ, sổ chi tiết, sổ tổng hợp và báo cáo kế toán nhập – xuất – tồn cho các loại vật tư, sản phẩm hàng hóa tăng giảm trong kỳ kế toán. Tại Khoản 13 Điều 23 Thông tư 200/2014/TT-BTC quy định có 2 phương pháp hạch toán tổng hợp hàng tồn kho: + Phương pháp kê khai thường xuyên phản ánh giá trị hiện có và tình hình biến động HTK của DN.
Giá thực tế xuất = Số lượng x Đơn giá tính cho hàng xuất + Phương pháp kiểm kê định kỳ phản ánh giá trị HTK đầu kỳ và cuối kỳ kế toán của DN. Cuối kỳ tiến hành kiểm kê hàng tồn kho. Giá xuất thực tế = Trị giá thực tế tồn đầu kỳ + trị giá thực tế nhập trong kỳ - Trị giá thực tế tồn cuối kỳ. Với hai phương pháp trên thì DN lựa chọn phương pháp nào thì cũng phải duy trì ít nhất trong một niên độ kế toán và phải được áp dụng cho tất cả các loại hàng tồn kho của DN.
Về phương pháp tính giá HTK Hàng tồn kho trong các doanh nghiệp có từ nhiều nguồn khác nhau với các đơn giá khác nhau. Vì vậy, việc lựa chọn phương pháp nào còn tùy thuộc vào đặc điểm HTK, yêu cầu và trình độ quản lý của DN. Tuy nhiên DN áp dụng phương pháp nào thì chuẩn mực kế toán cũng đòi hỏi phải nhất quán trong suốt niên độ kế toán. Nếu có sự thay đổi phải giải trình và thuyết minh, nêu rõ những tác động của sự thay đổi tới BCTC của DN.
Theo Thông tư 200/2014/TT-BTC, để tính giá của HTK, DN có thể thực hiện 1 trong 3 phương pháp sau: Phương pháp tính theo giá đích danh: Phương pháp này được áp dụng dựa trên giá trị thực tế của từng thứ hàng hóa mua vào, từng thứ sản phẩm sản xuất ra nên chỉ áp dụng các doanh nghiệp có ít mặt hàng hoặc mặt hàng ổn định và nhận diện được. 16 do an Phương pháp bình quân gia quyền: Theo phương pháp này, giá trị của từng loại HTK được tính theo giá trị trung bình của từng loại HTK đầu kỳ và giá trị của từng loại HTK được mua hoặc sản xuất trong kỳ. Giá trị trung bình có thể được tính theo từng kỳ hoặc sau từng lô nhập hàng về, phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi DN. Phương pháp nhập trước, xuất trước: Phương pháp này áp dụng dựa trên giả định là giá trị HTK được mua hoặc được sản xuất trước thì xuất trước và giá trị HTK còn lại cuối kỳ là giá trị hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất gần thời điểm cuối kỳ.
Theo phương pháp này thì giá trị hàng xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhập kho ở thời điểm đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ, giá trị của HTK cuối kỳ được tính theo giá của hàng nhập kho ở thời điểm cuối kỳ hoặc gần cuối kỳ còn tồn kho. Mỗi phương pháp tính giá trị hàng tồn kho đều có những ưu, nhược điểm nhất định. Mức độ chính xác và độ tin cậy của mỗi phương pháp tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý, trình độ, năng lực nghiệp vụ, phương tiện xử lý thông tin, đồng thời cũng tuỳ thuộc vào yêu cầu bảo quản, tính phức tạp về chủng loại, quy cách và sự biến động của vật tư, hàng hóa ở doanh nghiệp. Do đó kế toán có nhiệm vụ xác định giá thực tế của từng loại HTK qua mỗi lần xuất kho và đặc biệt phải đảm bảo tính nhất quán trong cả niên độ kế toán.
Giá trị thuần có thể thực hiện được và lập dự phòng giảm giá HTK: Thông tư 200/2014/TT-BTC quy định: Doanh nghiệp trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải lập khi có những bằng chứng tin cậy về sự suy giảm của giá trị thuần có thể thực hiện được so với giá gốc của hàng tồn kho.