Đặt vấn đề Trên thế giới, chăn nuôi lợn là ngành kinh doanh lớn, thịt lợn chiếm 40% tổng số lượng các loại thịt. Ở Việt Nam, chăn nuôi lợn là nghề truyền thống của hàng triệu hộ nông dân, thịt lợn chiếm 70% lượng các loại thịt tiêu thụ hàng ngày trên thị trường. Do nhu cầu tiêu thụ thịt trong nước đang tăng nhanh, đặc biệt là thịt lợn nhiều nạc, do sự cạnh tranh gay gắt về chất lượng và giá cả lợn giống, lợn hơi và các sản phẩm chế biến từ thịt lợn trên thị trường quốc tế. Nên trong những năm gần đây, đàn lợn ở nước ta đã và đang phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng.
Nhiều hộ nông dân, trang trại và xí nghiệp chăn nuôi lợn ở nước ra đã cố gắng chuyển phương thức chăn nuôi truyền thống chủ yếu dựa vào kỹ thuật, kinh nghiệm vốn có và nguồn thức ăn từ phụ phẩm nông nghiệp sang phương thức chăn nuôi công nghiệp. Trong điều kiện chăn nuôi theo hướng tập trung như hiện nay, để sản phẩm chăn nuôi trở thành hàng hoá có chất lượng cao phục vụ nhu cầu thực phẩm của nhân dân và xuất khẩu thì vấn đề ô nhiễm môi trường do chất thải trong quá trình chăn nuôi ngày một nặng hơn ở nhiều vùng nông thôn nước ta mà chưa có giải pháp chiến lược đồng bộ bảo vệ môi trường sinh thái nông nghiệp. Do vậy, các bệnh ở lợn phát sinh cũng ngày một nhiều hơn, diễn biến phức tạp gây thiệt hại kinh tế nghiêm trọng và là thách thức lớn cho ngành chăn nuôi lợn, trong đó có hội chứng tiêu chảy ở lợn con theo mẹ giai đoạn 1 - 21 ngày tuổi với nhiều nguyên nhân gây ra. Hội chứng này không chỉ phổ biến ở nước ta mà ở khắp nơi trên thế giới, gây thiệt hại kinh tế lớn cho ngành chăn nuôi lợn sinh sản.
Hội chứng tiêu chảy xuất hiện lúc ồ ạt, lúc lẻ tẻ tùy thuộc vào thời tiết, khí hậu, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý, lợn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố stress, lợn con sinh ra không được bú sữa kịp thời hoặc do sữa đầu của mẹ thiếu không đảm bảo chất lượng dinh n 2 dưỡng. Khi lợn con mắc bệnh nếu điều trị kém hiệu quả sẽ gây còi cọc chậm lớn ảnh hưởng đến giống cũng như khả năng tăng trọng của chúng, gây tổn thất lớn về kinh tế. Do đó, phòng bệnh tiêu chảy cho lợn con góp phần làm tăng hiệu quả chăn nuôi lợn sinh sản, đảm bảo cung cấp con giống có chất lượng tốt. Đã có nhiều công trình nghiên cứu trong nước về hội chứng tiêu chảy ở lợn con và đưa ra các biện pháp phòng trị bệnh, góp phần không nhỏ trong việc hạn chế những thiệt hại do tiêu chảy gây ra ở lợn con theo mẹ.
Tuy nhiên sự phức tạp của cơ chế gây bệnh, những tác động phối hợp của các nguyên nhân, đặc điểm cơ thể gia súc non… đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu. Vì thế các giải pháp đưa ra chưa thực sự đem lại kết quả mong muốn. Hội chứng tiêu chảy ở lợn con theo mẹ vẫn là nguyên nhân gây thiệt hại lớn cho các cơ sở chăn nuôi lợn. Xuất phát từ thực tiễn trên, được sự góp ý của giáo viên hướng dẫn, em tiến hành thực hiện chuyên đề: “Quy trình chăn nuôi lợn nái sinh sản và biệp pháp phòng trị hội chứng tiêu chảy ở lợn con tại trang trại lợn Tuấn Hà, xã Yên Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang”.
Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 1. Mục đích Đánh giá được tình hình chăn nuôi, vệ sinh phòng bệnh tại trang trại thực tập. Xác định ảnh hưởng của một số yếu tố ngoại cảnh qua đó đánh giá được tình hình mắc bệnh, xác định tỷ lệ chết do hội chứng tiêu chảy gây ra ở lợn con từ 1 - 21 ngày tuổi tại trang trại và ứng dụng một số biện pháp phòng trị bệnh để giảm thiểu thiệt hại cho người chăn nuôi. Yêu cầu - Đánh giá cơ cấu đàn lợn nái sinh sản qua các năm.
- Đánh giá được tình hình mắc hội chứng tiêu chảy lợn con từ 1 - 21 ngày tuổi tại trại lợn Tuấn Hà, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. - Áp dụng được quy trình phòng và trị hội chứng tiêu chảy lợn con từ 1 - 21 ngày tuổi. n 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2.
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên - xã hội Trang trại lợn Tuấn Hà là trại nái gia công công ty cổ phần CP Việt Nam thuộc địa phận xã Yên Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Yên Sơn là xã thuộc vùng chiêm chũng nằm ở phía Tây Nam của huyện Lục Nam, cách trung tâm huyện khoảng 10km về phía tây, địa giới hành chính của xã được xác định như sau: - Phía Bắc giáp xã Chu Điện. - Phía Nam giáp xã Chu Xá. - Phía Đông giáp 2 xã Khám Lạng, Bắc Lũng.
- Phía Tây giáp xã Lan Mẫu, xã Trí Yên huyện Yên Dũng. Khí hậu xã Yên Sơn không có sự khác biệt so với khí hậu của tỉnh Bắc Giang và các tỉnh thuộc khu vực Đông Bắc Việt Nam. Xã nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm có bốn mùa rõ rệt. Mùa Đông có khí hậu khô, lạnh; mùa Hè khí hậu nóng ẩm; mùa Xuân và độ ẩm trung bình trong năm là 83%, một số tháng trong năm có độ ẩm trung bình trên 85%.
Các tháng mùa khô có độ ẩm không khí dao động khoảng 74% - 80%. Trại nằm trên khu đất cách biệt với khu dân cư của xã Yên Sơn. Cơ cấu nhân sự - cơ sở hạ tầng 2. Cơ cấu nhân sự * Chủ trang trại là: Nguyễn Thị Thu Hà * Cơ cấu lao động của trại gồm: 18 người - Nhân viên kỹ thuật: Đỗ Văn Hoài - Quản lý: Nguyễn Văn Nam - Công nhân: 5 người n 4 - Nhân viên nấu ăn: 1 người - Sinh viên thực tập: 10 người 2.
Cơ sở vật chất của trang trại * Hệ thống chuồng trại Khu vực xung quanh trang trại trồng cây để lấy bóng mát chắn gió. Trang trại có 3 cổng và mỗi cổng đều có hố nước sát trùng để sát trùng tất cả các phương tiện ra vào trại, bao gồm một cổng chính có chiều cao an toàn để xuất lợn con cai sữa, cổng thứ 2 dành riêng cho xe chở cám, cổng thứ 3 nằm đằng sau cho xe chở lợn hậu bị, lợn đực tới và chuyển lợn chết đi ra khỏi trại, sẽ có nhân viên phun sát trùng nếu có xe tới. Khu vực chăn nuôi được xây dựng gồm 4 khu chuồng: Khu chuồng lợn cai sữa, khu chuồng nái đẻ, khu chuồng nái mang thai, khu chuồng lợn nuôi cách ly. Khu chuồng lợn con cai sữa tách biệt hẳn với khu chuồng nái đẻ và chuồng bầu gồm 2 ô chuồng, mỗi ô chuồng rộng 30m2.
Chuồng nuôi nhốt lợn cai sữa để chờ xuất chuồng. Khu chuồng nái đẻ gồm 3 chuồng đẻ, mỗi chuồng gồm 2 dãy chuồng cách nhau bởi một bức tường có cửa thông qua hai dãy, mỗi dãy chuồng có 28 ô chuồng, sử dụng nuôi nhốt nái đẻ nuôi con và nái mang thai chờ đẻ. Khu chuồng bầu giáp với khu chuồng đẻ gồm có 8 dãy chuồng, mỗi dãy có 70 ô chuồng, ở giữa là lối đi, dưới gầm mỗi dãy sẽ có đường dẫn nước thải, chuồng được sử dụng để nuôi nái chờ phối và nái mang thai. Ở chuồng bầu 1 có khu phối nhốt đực và nái chờ phối để thuận tiện việc phối giống, đầu dãy bên cạch khu phối có các ô rộng và bên cạnh ô rộng là các ô chuồng nhốt đực để thuận tiện cho việc thử tính lên giống của nái chờ phối.
Nối tiếp là phòng xử lý tinh dịch sau khai thác và chứa các dụng cụ như que phối giống, nước cất, kính hiển vi. Khu chuồng cách ly bao gồm 4 chuồng: 1 chuồng đực và 3 chuồng còn lại dùng để nuôi nhốt lợn hậu bị mới nhập trại, lợn loại thải, lợn nghi mắc bệnh. Đầu chuồng đực có 1 ô để giá nhảy để khai thác tinh. n 5 Chuồng bầu, nái đẻ và các ô chuồng được làm bằng khung thép, sàn chuồng được lắp ghép bằng các tấm sàn bê tông, tấm sàn nhựa có lỗ, cách nền chuồng một khoảng nhất định (khoảng 1 mét).
Chuồng lợn con cai sữa và khu chuồng cách ly được xây bằng gạch, nền láng xi măng, các chuồng đều có độ dốc thích hợp nên rất thuận tiện cho việc vệ sinh tiêu độc. Các khu chuồng nuôi được xây dựng theo hướng Đông - Nam. Chuồng được xây dựng là chuồng khép kín, các khu chuồng được nối với nhau bởi hệ thống hành lang láng xi măng được quét vôi sạch sẽ, mỗi đầu chuồng là hệ thống dàn mát, cuối chuồng là hệ thống quạt hút gió, mái các khu chuồng được lợp bằng mái tôn, cách sàn chuồng khoảng 3 - 3,5 mét. Tất cả các khu chuồng hai bên tường có hệ thống cửa sổ bằng kính để lấy ánh sáng tự nhiên vào chuồng.
Trên mái, dàn mát có hệ thống vòi phun nước giúp làm giảm nhiệt độ chuồng nuôi vào mùa hè, mùa đông thì có thể dùng bạt che phần dàn mát và tắt bớt hệ thống quạt gió để giữ ấm chuồng nuôi. Hệ thống máng ăn, máng uống được thiết kế phù hợp bao gồm máng ăn bằng inox, nước uống được dẫn từ hệ thống lọc tới từng ô chuồng bằng đường ống dẫn, ở đó có lắp các van uống tự động. * Các công trình khác Hệ thống xử lý nước thải được xây dựng ở một khu riêng rẽ nằm cách xa các khu chuồng nuôi, cuối các dãy chuồng có hệ thống đường dẫn nước thải đến khu này, hầm Bioga, các bể lắng nước thải sau đó được đưa ra hệ thống cống rãnh xung quanh trại. Đầu khu chuồng cai sữa là kho cám sử dụng chứa thức ăn cho toàn bộ lợn trong trại.
Ngay trước kho cám là dãy nhà bao gồm phòng sát trùng, kho thuốc, phòng ăn ca và nhà nghỉ ca. Cạnh cổng chính là phòng tiếp khách, nhà ăn và khu nhà ở dành cho công nhân lao động trong trang trại. n 6 Hệ thống chuồng trại 2. Đánh giá chung 2.
Thuận lợi Trại được Công ty cổ phần CP Việt Nam cung cấp về con giống, thức ăn và thuốc thú y có chất lượng tốt. Trang trại có vị trí thuận lợi, địa hình, đường đi khá thuận tiện cho việc vận chuyển con giống cũng như thức ăn chăn nuôi. Chủ trại có năng lực, năng động, nắm bắt được tình hình xã hội, luôn quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ kỹ thuật và công nhân.