Đặt vấn đề Ngành chăn nuôi lợn ở nước ta hiện nay đang gặp nhiều vấn đề về thách thức. Ảnh hưởng bởi dịch tả lợn Châu Phi và dịch Covid làm ngành chăn nuôi lợn gặp nhiều biến động. Năm qua giá nguyên liệu thức ăn chăn nuôi trên thế giới tăng mạnh đã tác động tới giá thức ăn chăn nuôi Việt Nam tăng cao gây nên ảnh hưởng nghiêm trọng tới các hộ chăn nuôi và các cơ sở chăn nuôi. Hiện nay vẫn nhiều địa phương đang chịu ảnh hưởng bởi dịch tả lợn Châu Phi và dịch vẫn đang tiếp diễn tại một số địa phương.
Chăn nuôi sinh học trong các cơ sở chăn nuôi vẫn chưa được đảm bảo, dẫn đến tình hình dịch bệnh diễn ra phức tạp gây sụt giảm mạnh tổng đàn dẫn đến thiếu hụt thực phẩm buộc nước ta phải nhập khẩu thịt lợn. Chăn nuôi lợn góp vai trò quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm cho người dân, ngoài ra còn đóng vai trò giải quyết được nhu cầu công ăn việc làm cho nhiều người lao động. Việc chăn nuôi lợn nái sinh sản hiện nay đóng vai trò quan trọng, giải quyết nhu cầu về giống và năng suất, tăng tỷ lệ nạc ở lợn con và tăng nhanh đàn lợn và số lượng và chất lượng. Dựa theo tình hình thực tế trên và để giúp sinh viên tiếp cận thực tế trước khi ra trường, được sự đồng ý của Ban Chủ nhiệm khoa Chăn Nuôi Thú ý- Trường Đại học Nông Lâm cùng với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn và cơ sở thực tập em tiến hành thực hiện chuyên đề: “Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh trên lợn nái sinh sản tại trang trại lợn Bùi Huy Hạnh xã Tái Sơn huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương”.
Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 1. Mục tiêu - Áp dụng lý thuyết đã được học vào thực tế. - Đánh giá quá trình chăm sóc lợn nái sinh sản và hình thức nuôi dưỡng tại trại. Học hỏi và trau dồi kĩ năng tại cơ sở.
- Chia khẩu phần ăn theo từng giai đoạn. - Phát hiện và chẩn đoán, điều trị bệnh trên lợn nái. Yêu cầu của chuyên đề - Nắm bắt được quy mô và tình hình chung của trại. - Trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng lợn nái sinh sản - Bệnh trên đàn lợn nái sinh sản và hiệu quả của quy trình phòng, trị bệnh cho lợn nái sinh sản.
- Học hỏi và trau dồi kiến thức giúp nâng cao tay nghề của bản thân. 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện của cơ sở nơi thực tập 2. Điều kiện của trang trại 2.
Vị trí địa lý Trại được xây dựng và phát triển tại xã Tái Sơn, huyện Tứ Kì, tỉnh Hải Dương. Huyện Tứ Kỳ là một huyện nằm ở phía Đông Nam tỉnh Hải Dương có diện tích 165,5 km² gồm 1 thị trấn và 22 xã, dân số năm 2018 là 152.541 người và mật độ dân số đạt 923 người/km². Trại lợn chăn nuôi Bùi Huy Hạnh là trại lợn gia công cho Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam (là một chi nhánh của tập đoàn CP Thái Lan). Trại bắt đầu đi vào hoạt động vào năm 2007.
Cơ cấu tổ chức nhân sự của trại Cơ cấu tổ chức gồm có 27 người: + 1 chủ trại + 1 quản lý + 2 kỹ sư + 2 tổ trưởng + 1 bảo vệ + 20 công nhân Mỗi cá nhân có trách nhiệm hoàn thành nhiệm vụ và quy định đề ra một cách nghiêm túc và chính xác. Cơ sở vật chất của nơi thực tập Trang trại có tổng diện tích 3ha, trong đó xây dựng 1ha cho khu chăn nuôi tập trung cùng các công trình phụ cận và 2ha để xây dựng nhà điều hành, 4 bếp ăn và một số công trình để nhằm phục vụ cho công nhân. Ngoài ra còn trồng cây ăn quả và ao hồ. Khu chăn nuôi được xây dựng theo hệ thống chuồng trại cho hơn 1200 nái gồm có 6 chuồng đẻ, 2 chuồng bầu, 2 chuồng cách ly (1 chuồng ngoài, 1 chuồng trong), 1 chuồng cai sữa và một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: kho thuốc, kho thức ăn, phòng sát trùng và phòng tinh.
Hệ thống chuồng khép kín, đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 6 quạt thông gió (2 quạt bé và 4 quạt to), Ở chuồng bầu có 10 quạt gió, chuồng cách ly có 3 quạt (2 quạt to và 1 quạt bé). Đối với chuồng cai sữa sử dụng 3 quạt bé. Dọc hai bên chuồng có lắp dãy cửa kính chiếu sáng. Trần được làm bằng tôn cách nhiệt giúp chống nóng cho lợn sinh sản tại trại.
Phòng tinh được trang bị đầy đủ các thiết bị cần thiết như: kính hiển vi, cảm biến nhiệt, thiết bị chưng nước cất, máy đếm mật độ tinh trùng, dụng cụ đóng liều tinh, thiết bị bảo quản tinh dịch, nồi hấp cách thuỷ dụng cụ và các dụng cụ khác. Hành lang và đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu vực khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng riêng, có chậu sát trùng trước mỗi cửa chuồng. Hệ thống nước là nước giếng khoan. Nước uống cho lợn được xây dựng và đưa đến các chuồng Nước tắm và nước xả gầm phục vụ cho công tác khác được bố trí ở giữa chuồng đẻ 6 và bầu 2.
Hệ thống điện: điện lưới và có máy phát dự phòng. Hệ thống sát trùng: nhà sát trùng gồm 5 phòng, được trang bị đầy đủ để vệ sinh tắm rửa trước và sau khi xuống chuồng. Hệ thống nước thải được xử lý sạch sẽ qua hệ thống biogas. Các công trình phụ trợ khác: Khu nhà sinh hoạt tập trung tách biệt với khu chăn nuôi bao gồm: Khu nhà ở tập trung (Nhà điều hành) và khu nhà ở cho kỹ sư (Trung tâm đào tạo), nhà ăn và nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh, cổng 5 trại và hàng rào an ninh.
Ngoài ra còn trang bị bàn bia, bóng bàn, máy chạy bộ, tập tạ. Nhằm phụ vụ nhu cầu giải trí và sức khỏe cho tập thể công nhân và cán bộ. Một số trang thiết bị khác như: kho thuốc, kho cám, kho chứa vôi, kho lạnh bảo quản vaccin, máy nén sát trùng. Thuận lợi và khó khăn 2.
Thuận lợi - Trại xây dựng ở khu vực cách xa khu dân cư, giao thông thuận tiện đi lại. - Đầu tư trang thiết bị hiện đại, cơ sở vật chất tốt - Đội ngũ nhân viên và cán bộ có trình độ chuyên môn cao, có tránh nhiệm với công việc 2. Khó khăn - Thời tiết khí hậu phức tạp làm công tác phòng dịch bệnh khó khăn. - Do trại đã xây dựng từ lâu nên cơ sở vật chất cũng đã xuống cấp - Chi phí phòng và chữa bệnh lớn do tình hình dịch bệnh vẫn diễn ra phức tạp.
Tổng quan cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề 2. Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái sinh sản 2. Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ - Quy trình nuôi dưỡng: Theo Nguyễn Quang Linh, Phùng Quang Long (2020) [4], sau khi lợn nái phối giống có kết quả, hợp tử bám chặt và làm tổ ở tử cung và bắt đầu phát triển bình thường. Đồng thời, các cơ quan bộ phận liên quan (nhau thai, bọc ối, niệu, tử cung và bầu vú) đều được phát triển trong thời gian 114 ngày.
Trong thời gian có chửa lợn nái có nhiều đặc điểm thay đổi, do vậy việc chăm sóc nuôi dưỡng chúng phải phù hợp và đảm bảo để có số con sơ sinh cao; khối lượng trung bình của lợn con cai sữa cao; lợn con sinh ra khỏe mạnh và có sức đề kháng tốt. 6 Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [9] những thức ăn để cho nái đẻ ăn cần có hàm lượng giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hoá… Không cho lợn nái ăn những thức ăn ẩm mốc hay kém chất lượng gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó, hoặc ép thai chết ngạt. Lợn nái đẻ được đưa lên chuồng đẻ trước 2 tuần để làm quen với môi trường của chuồng nuôi chuẩn bị cho việc đẻ. Lợn nái trước khi đẻ 1 tuần căn cứ vào tình trạng sức khỏe để có kế hoạch giảm lượng thức ăn thích hợp.
Và chuyển từ ăn 1 bữa/ ngày ở chuồng bầu sang chuồng đẻ là 2 bữa/ ngày và 3 bữa/ ngày khi đẻ xong. Đối với những con lợn nái sức khỏe yếu và bỏ ăn cần quan tâm chăm sóc, bón cho lợn nái và truyền thêm sinh lý ngọt nếu cần. Đến ngày đẻ dự kiến cho lợn nái đẻ ăn 0,5kg/ ngày thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh hoặc những nái bỏ ăn bón thức ăn loãng cho nái ăn và cho uống nước tự do. Sau khi đẻ không cho ăn nhiều lại một cách đột ngột mà phải tăng từ từ mỗi ngày 0,5kg đến ngày 4-5 cho ăn đủ tiêu chuẩn.
Nếu quá ngày đẻ mà lợn nái chưa đẻ thì tăng lượng thức ăn lên 1,5kg/ ngày. - Quy trình chăm sóc: + Quá trình lợn chờ đẻ: Để tăng cao năng suất và phát triển tốt cho lợn con thì việc chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái mẹ rất quan trọng. Lợn mẹ sau khi đẻ cần phải thường xuyên quan tâm và chăm sóc sức khỏe của lợn mẹ trong 3 ngày liên tục để kịp thăm khám và phát hiện. Trước khi lợn đẻ 2 tuần cần chuẩn bị chuồng đẻ, vệ sinh, khử trùng toàn bộ từ ô chuồng, nền chuồng, sàn chuồng.
Sàn chuồng bằng xi măng sau khi vệ sinh và khử trùng cần đực khò nhiệt để diệt sạch vi khuẩn gây bệnh cho lợn mẹ và lợn con. 7 Sau khi tiêu độc, khử trùng để trống chuồng từ 3 - 5 ngày trước khi cho lợn vào. Chuồng nuôi phải đáp ứng có đầy đủ ánh sáng, sạch sẽ, khô ráo. Lợn nái đẻ trước khi đuổi lên chuồng đẻ cần được vệ sinh sạch sẽ tránh để phân dính vào vùng âm hộ và bầu vú.
Vùng âm hộ và bầu vú được lau rửa bằng nước muối hoặc nước sát trùng pha loãng để tránh vi khuẩn xâm nhập vào lợn con khi sinh. Lợn nái sau khi được vệ sinh sạch sẽ ở chuồng bầu sẽ được đưa lên chuồng đẻ, trong quá trình di chuyển lợn nái cần phải nhẹ nhàng tránh đánh đập vật nuôi. Trong quá trình chăm sóc lợn con ô úm có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè lợn con và đặc biệt trong mùa đông ô úm giúp khống chế nhiệt độ giữ độ ấm cho lợn con tránh bị lạnh. Trước ngày đẻ dự kiến 1-2 ngày cần chuẩn bị sẵn ô úm cho lợn con, ô úm được cọ rửa sạch sẽ và phun khử trùng.
+ Quá trình lợn đẻ: Biểu hiện của nái trước khi đẻ: trằn trọc, bứt rứt, cắn phá chuồng.