Đặt vấn đề Việt Nam là một nước nông nghiệp có bề dày hàng ngàn năm lịch sử có những lợi thế về tiềm năng đất đai, lao động, môi trường sinh thái, cho phép phát triển nhiều loại cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao. Trồng trọt và chăn nuôi là hai ngành không thể thiếu trong nông nghiệp, nó gắn liền với cuộc sống của người lao động. Đặc biệt là ngành chăn nuôi không chỉ cung cấp khối lượng thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, nguồn đạm động vật như thịt, sữa, các sản phẩm từ trứng, sữa mà còn là nguyên liệu cho ngành sản xuất hàng tiêu dùng (tơ tằm, lông cừu, da), dược phẩm và là nguồn cung cấp phân hữu cơ cho ngành trồng trọt. Chăn nuôi lợn ở Việt Nam nói chung và tỉnh Hòa Bình nói riêng hết sức quan trọng trong hệ thống chăn nuôi.
Lợn là loại gia súc được nuôi nhiều và được sử dụng để làm thực phẩm rất giàu giá trị dinh dưỡng rất cần thiết không thể thiếu trong đời sống con người. Tuy nhiên, Việt Nam là đất nước có nền chăn nuôi với trang thiết bị và kỹ thuật chưa cao dẫn đến khả năng tăng trưởng, sinh trưởng và sinh sản chưa cao nên chưa đem lại lợi nhuận cao cho người chăn nuôi và tăng nền kinh tế cho đất nước. Năm 2018, Việt Nam cần phải loại bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan, nó đòi hỏi sản phẩm của ngành chăn nuôi phải chất lượng, có khả năng cạnh tranh cao với các sản phẩm của nước ngoài, Những năm gần đây do chủ trương, đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước, mọi ngành kinh tế đều phát triển, ngành chăn nuôi cũng có những chuyển biến mạnh, tích cực. Nhiều giống lợn cao sản được nhập về nuôi thuần thử nghiệm ở nước ta, đồng thời cải tạo các giống lợn nội để tạo ra thế hệ con lai có năng suất chất lượng cao hơn nhưng vẫn thích nghi với điều kiện Việt Nam.
h 2 Theo Bộ NN&PTNT, tình hình chăn nuôi năm 2018 gặp nhiều biến động, đặc biệt là giá trị lợn thịt giảm sâu từ đầu năm khiến người chăn nuôi chịu thua lỗ. Sau nhiều tháng chạm đáy, giá lợn hơi những tháng cuối năm đang có dấu hiệu tăng trở lại nhưng vẫn không đủ để người chăn nuôi có lãi. Tình trạng giá lợn thấp kéo dài, khó khăn trong khâu tiêu thụ khiến người chăn nuôi lợn giảm đàn, bỏ đàn, treo chuồng. Theo kết quả điều tra chăn nuôi năm kỳ 01/10/2018, đàn lợn cả nước có 28,15 triệu con, tăng 2,72% sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng đạt 3,8 triệu tấn, tăng 1,45% so với năm 2017.
Trước thực trạng trên, được sự đồng ý của khoa CNTY - Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên và sự hướng dẫn của thầy Hà Văn Doanh, tôi tiến hành nghiên cứu chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trang trại Trần Văn Tuyên xã Đoàn Kết - huyện Yên Thủy - tỉnh Hòa Bình”. Mục tiêu- yêu cầu 2. Mục tiêu - Đánh giá khả năng sinh sản của đàn lợn nái ngoại ở trang trại Trần Văn Tuyên xã Đoàn Kết-huyện Yên Thủy-tỉnh Hòa Bình. Yêu cầu - Theo dõi thu thập đầy đủ và chính xác các số liệu có liên quan đến khả năng sinh sản của đàn lợn nái ngoại ở trại.
h 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2. Điều kiện của trang trại 2. Vị trí địa lý Trại chăn nuôi Trần Văn Tuyên nằm trên địa phận xã Đoàn Kết, huyện Yên Thủy, nằm ở đông nam tỉnh Hòa Bình, cách thành phố Hoà Bình khoảng 85 km, thành phố Ninh Bình đường quốc lộ 1A khoảng 50km, cách thủ đô Hà Nội, sân bay quốc tế nội bài khoảng 100 km, cách thành phố Sơn la tỉnh Sơn La khoảng 250 km.
Trại bắt đầu hoạt động từ năm 2013 là trại tư nhân và do ông Trần Văn Tuyên làm chủ trại. Vị trí địa lý của huyện Yên Thủy được xác định như sau: - Phía đông giáp huyện Lạc Thủy. - Phía tây giáp huyện Lạc Sơn. - Phía nam giáp huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình.
- Phía bắc giáp huyện Kim Bôi. Huyện có 13 đơn vị hành chính, gồm 12 xã và 1 thị trấn với tổng diện tích tự nhiên là 282,1 km2. Đặc điểm khí hậu Yên thủy có khí hậu tương đối đặc trưng của Miền Bắc Việt Nam, lạnh về mùa đông, nóng về mùa hè, vào mùa Hè còn có cả gió phơn từ phía tây thổi qua, mát mẻ mùa thu và ấm áp vào mùa xuân. Đặc biệt do địa hình có độ dốc nhẹ về phía đông và không có nhiều sông suối nên trên địa bàn hầu như không có lũ lụt vào mùa mưa.
Nhiệt độ trung bình hàng năm là 22,8oC. Nhiệt độ lúc cao nhất trong năm là 38,90oC, thấp nhất là 2,7oC. h 4 Lượng mưa trung bình hàng năm là 1900 mm, năm cao nhất là 2460 mm, năm thấp nhất là 1300 mm, lượng mưa nhiều nhất thường xuất hiện vào tháng 7, 8 hàng năm. Đoàn Kết là một xã thuộc huyện Yên Thủy, nằm ở tỉnh Hòa Bình, trong vùng chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm có bốn mùa rõ rệt: Xuân, Hạ, Thu, Đông.
Do đó trại Trần Văn Tuyên cũng chịu ảnh hưởng chung của khí hậu vùng. Cơ cấu tổ chức của trang trại Cơ cấu tổ chức gồm 3 nhóm: + Nhóm quản lý: 1 chủ trại phụ trách chung, 1 bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại. + Nhóm kỹ thuật: 2 kỹ sư chăn nuôi, 1 kỹ sư di truyền, 1 kỹ thuật điện, 1 kế toán phụ trách chuyên môn. + Nhóm công nhân: 15 công nhân, 7 sinh viên thực tập thực hiện công việc chuyên môn.
Với đội ngũ nhân công trên, trại phân ra làm các tổ khác nhau như tổ chuồng nái đẻ, tổ chuồng nái chửa. Các tổ có bảng chấm công riêng cho từng công nhân trong tổ, ngoài ra các tổ trưởng có nhiệm vụ đôn đốc, quản lý các thành viên trong tổ nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm và thúc đẩy sự phát triển của trang trại. Cơ sở vật chất của trang trại Trang trại có tổng diện tích là 4,2 ha, nằm trên địa bàn xã Đoàn Kết, có địa hình chủ yếu là núi đá vôi nhưng đường giao thông đã được nâng cấp, thuận tiện cho việc đi lại, vận chuyển. Để đảm bảo công tác phát triển sản xuất chăn nuôi và sinh hoạt của công nhân, trại được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật gồm: Khu nhà điều hành, khu nhà ở cho công nhân, bếp ăn tập thể, các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại.
h 5 Khu chăn nuôi có hàng rào bao bọc xung quanh và có cổng vào riêng. Chuồng trại được quy hoạch, bố trí xây dựng phù hợp với hướng chăn nuôi công nghiệp, hệ thống chuồng nuôi lồng, nền sàn bê tông cho lợn nái, lợn đực, sàn nhựa cho lợn con cùng với hệ thống vòi nước tự động và máng ăn.Chuồng nuôi được xây dựng đảm bảo đủ cho 1200 nái cơ bản, bao gồm: + 3 chuồng nái đẻ: mỗi chuồng gồm khu A và khu B, mỗi khu có 2 dãy, mỗi dãy có 29 ô chuồng được thiết kế sàn nhựa cho lợn con và sàn bê tông cho lợn mẹ. + 2 chuồng nái chửa: chuồng 1 và chuồng 2, mỗi chuồng gồm 6 dãy, mỗi dãy có 89 ô để nuôi và chăm sóc lợn nái trong thời gian mang thai, được sắp xếp theo các kỳ mang thai khác nhau. Riêng chuồng 1: dãy 1 được thiết kế cho lợn nái chờ phối, có khu thử lợn, ép lợn và dãy 2 có khu làm nơi thụ tinh nhân tạo cho lợn nái.
+ 1 chuồng đực giống: bao gồm 34 ô để nuôi lợn đực và 1 ô để khai thác tinh. + 4 chuồng cách ly: dùng để nuôi lợn hậu bị được nhập từ các trại gia công lợn hậu bị của Công ty Cổ phần Chăn nuôi CP Việt Nam, mỗi chuồng có thể nuôi được từ 30 - 40 lợn hậu bị.Lợn được nuôi ở đây trong thời gian 3 tháng, thời gian này lợn được sử dụng vắc xin đầy đủ trước khi được đưa lên làm lợn nái sinh sản. Hệ thống chuồng được xây dựng khép kín hoàn toàn. Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng được thiết kế quạt hút gió, có hệ thống điện chiếu sáng và bóng đèn hồng ngoại để sưởi ấm, úm lợn con, đảm bảo thoáng mát về mùa Hè, ấm áp về mùa Đông bằng cách điều chỉnh hệ thống quạt, giàn mát và bóng đèn sưởi ấm trong chuồng.
Mỗi chuồng được lắp đặt máy bơm nước để tắm cho lợn và vệ sinh chuồng trại hằng ngày, cuối chuồng có hệ thống thoát phân và nước thải. Bên cạnh chuồng lợn đực có xây dựng phòng pha chế tinh, với đầy đủ dụng cụ và thiết bị như: kính hiển vi, nhiệt kế, đèn cồn, máy h 6 ép ống tinh, tủ lạnh bảo quản tinh, nồi hấp, panh, kéo… Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các chậu nước sát trùng để trước cửa ra vào chuồng. Nhìn chung khu vực chuồng nuôi được xây dựng khá hợp lý, thuận lợi cho việc chăm sóc, đi lại, đuổi lợn giữa các dãy chuồng. Ngay tại cổng vào khu chăn nuôi có xây dựng 5 phòng tắm sát trùng cho cán bộ kỹ thuật và công nhân trước khi ra, vào chuồng chăm sóc lợn, 1 kho thuốc, 2 kho cám, 1 phòng ăn và 2 phòng nghỉ trưa cho công nhân.
Một số thiết bị khác cũng được trang bị đầy đủ: tủ lạnh bảo quản vắc xin, tủ thuốc để bảo quản và dự trữ thuốc của trại, xe chở cám từ nhà kho xuống các dãy chuồng, máy nén khí phun sát trùng di động khu vực trong và ngoài chuồng nuôi 2. Tình hình chăn nuôi tại cơ sở trong những năm qua * Công tác chăn nuôi: Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất con giống và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật. Hiện nay, trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,40- 2,45 lứa/năm. Số con sơ sinh là 13 con/đàn, số con cai sữa là 11,46 con/đàn, lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 26 ngày thì tiến hành cai sữa và chuyển sang các trại chăn nuôi lợn giống của công ty CP.
Theo đánh giá của Công ty Cổ phần Chăn nuôi CP Việt Nam thì mức độ sản xuất của trại vào loại khá. Trang trại có 29 con lợn đực giống. Các lợn đực giống này được nuôi nhằm mục đích kích thích động dục cho lợn nái và khai thác tinh để thụ tinh nhân tạo.