Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Ngành chăn nuôi giữ vị trí trọng yếu trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp Việt Nam, trong đó chăn nuôi lợn đóng vai trò chủ đạo nhằm cung cấp nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng và tạo thu nhập ổn định cho người sản xuất. Xu hướng chuyển dịch từ quy mô nông hộ nhỏ lẻ sang mô hình trang trại tập trung công nghiệp đòi hỏi các cơ sở sản xuất phải không ngừng nâng cao năng suất sinh sản và chất lượng đàn giống. Trong chu trình sản xuất khép kín, đàn lợn nái sinh sản giữ vai trò then chốt vì sức khỏe, năng suất và độ đồng đều của lợn con phụ thuộc trực tiếp vào công tác chăm sóc, nuôi dưỡng nái mang thai, đỡ đẻ và nái nuôi con. Trước diễn biến phức tạp của các loại dịch bệnh truyền nhiễm và hội chứng sản khoa, việc vận hành đúng quy trình kỹ thuật kết hợp các biện pháp phòng ngừa dịch tễ là điều kiện bắt buộc nhằm giảm tỷ lệ hao hụt và tối ưu hóa hiệu quả kinh tế. Xuất phát từ thực tiễn sản xuất tại cơ sở, đề tài "Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại Nguyễn Đức Binh xã Ba Trại, Ba Vì, Hà Nội" được thực hiện nhằm đáp ứng các mục tiêu và yêu cầu cụ thể.
Mục tiêu nghiên cứu của chuyên đề được xác định rõ:
- Nắm được tình hình chăn nuôi tại trại lợn nái Nguyễn Đức Binh, xã Ba Trại, huyện Ba Vì, Hà Nội.
- Nắm được quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản.
- Nắm được các loại thức ăn dành cho lợn nái sinh sản, khẩu phần ăn và cách cho lợn nái ăn qua từng giai đoạn mang thai.
- Nắm được các bệnh hay xảy ra đối với lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ cùng phương pháp phòng trị bệnh hiệu quả nhất.
Nhiệm vụ và yêu cầu nghiên cứu:
- Đánh giá toàn diện tình hình chăn nuôi tại trang trại trong giai đoạn 2015 – 2017.
- Trực tiếp thực hiện và giám sát quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái và lợn con theo mẹ.
- Theo dõi, thống kê và đánh giá diễn biến các bệnh lý phổ biến trên đàn lợn nái sinh sản và đàn lợn con trong thời gian thực tập.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Đàn lợn nái sinh sản và đàn lợn con theo mẹ nuôi tại cơ sở.
- Phạm vi không gian: Trại chăn nuôi lợn tư nhân Nguyễn Đức Binh, xã Ba Trại, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Trang trại có tổng diện tích mặt bằng 1,2 ha, vận hành hệ thống chuồng kín hoàn toàn với quy mô 100 nái ngoại, 1 chuồng đẻ (26 ô chuồng tiếp giáp chuồng bầu gồm 85 ô), 3 ô chuồng lợn đực giống và khu chuồng nuôi 450 lợn thịt thương phẩm.
- Phạm vi thời gian: Đề tài tiến hành thu thập số liệu, theo dõi và can thiệp kỹ thuật trong 6 tháng, từ ngày 18 tháng 5 năm 2017 đến ngày 18 tháng 11 năm 2017; kết hợp khảo sát hồi cứu số liệu sản xuất của trại từ năm 2015 đến năm 2017.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng trên hệ thống lý thuyết chuyên ngành chăn nuôi và bệnh học thú y:
- Đặc điểm sinh lý lợn nái sinh sản: Khung lý thuyết của Trần Văn Phùng và cộng sự (2004) về nhu cầu dinh dưỡng, năng lượng trao đổi (yêu cầu đạt 3.100 kcal, protein thô 15%, Ca từ 0,9 – 1,0%, P 0,7%), sự biến động thể trạng theo từng chu kỳ mang thai và quy luật tiết sữa của lợn nái ngoại. Hệ thống chỉ dấu nhận biết thời điểm lâm bồn dựa trên sự biến đổi âm hộ, tuyến vú và tính chất dịch nhờn âm đạo.
- Đặc điểm sinh lý lợn con theo mẹ: Quá trình phát triển nhanh của bộ máy tiêu hóa (dung tích dạ dày sơ sinh khoảng 0,03 lít, tăng gấp 3 lần lúc 10 ngày tuổi, gấp 8 lần lúc 20 ngày tuổi và gấp 60 lần lúc 60 ngày tuổi); hiện tượng thiếu hụt axit HCl tự do (hypohydric) ở lợn con dưới 1 tháng tuổi khiến men pepsinogen chưa thể hoạt hóa tối ưu (theo Hoàng Toàn Thắng và cộng sự, 2005); cơ chế hấp thu miễn dịch thụ động nhờ hiện tượng ẩm bào phân tử $\gamma$-globulin từ sữa đầu trong vòng 24 giờ đầu sau sinh (hàm lượng $\gamma$-globulin đạt 20,3 mg/100 ml máu lợn con sau 24 giờ bú mẹ); hạn chế về cơ năng điều hòa thân nhiệt do lớp mỡ dưới da mỏng và lượng glycogen dự trữ thấp (Từ Quang Hiển và cộng sự, 2001).
- Cơ sở bệnh học và điều trị: Lý thuyết về hội chứng viêm tử cung do nhiễm trùng cơ hội (Staphylococcus aureus, Streptococcus hemolitica, E. coli...), hội chứng viêm vú, mất sữa (hội chứng MMA), bệnh sát nhau, bại liệt sau sinh do hạ canxi huyết, hội chứng tiêu chảy và viêm đường hô hấp phức tạp ở lợn con (Mycoplasma kết hợp vi khuẩn kế phát), cùng các nguyên tắc sử dụng kháng sinh, thuốc trợ sức và hóa dược thú y (Nguyễn Bá Hiên và cộng sự, 2012; Nguyễn Văn Thanh, 2016).
Phương pháp nghiên cứu và triển khai thực tế:
- Phương pháp điều tra, hồi cứu: Khảo sát thông tin qua phỏng vấn chủ trang trại và tra cứu hệ thống sổ sách ghi chép lưu trữ tại trại về biến động số lượng đầu con, năng suất đàn từ năm 2015 đến năm 2017.
- Phương pháp quan sát và theo dõi lâm sàng: Kiểm tra đàn hàng ngày vào các khung giờ cố định (buổi sáng và chiều), theo dõi thân nhiệt, trạng thái ăn uống, phân, nước tiểu, tình trạng vết thương, dịch bài tiết âm đạo và phản xạ nuôi con của lợn mẹ.
- Phương pháp thực nghiệm thao tác kỹ thuật: Trực tiếp tiến hành kỹ thuật chuẩn bị ô chuồng, can thiệp đỡ đẻ, cắt và sát trùng dây rốn bằng cồn iod, úm lợn con ở nhiệt độ 28 – 33°C, mài nanh, bấm thẻ tai (mã số trại 22 kèm số tuần tuổi), cắt đuôi, tiêm chế phẩm sắt Fe-Dextran-B12 lúc 3 ngày tuổi, phẫu thuật thiến lợn đực nuôi thịt ở 5 ngày tuổi bằng dụng cụ chuyên dụng và tiêm phòng kháng sinh bao vây amlistin (1 ml/con), thụ tinh nhân tạo cho lợn nái (định mức 3 lần/chu kỳ động dục, thể tích 80 – 100 ml với 1,5 – 2,0 tỷ tinh trùng tiến thẳng).
- Nguồn dữ liệu và phương pháp xử lý số liệu: Số liệu ghi chép nhật trình tại chuồng đẻ trong 6 tháng thực tập; tính toán tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ điều trị khỏi theo công thức dịch tễ học thú y. Các biến số định lượng được phân tích và tổng hợp bằng phần mềm Microsoft Excel với các chỉ số: tổng mẫu ($S$), số trung bình cộng ($\bar{X}$), độ lệch chuẩn ($S_X$), và sai số trung bình ($m_{\bar{X}}$).
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả phân tích tính tất yếu của việc công nghiệp hóa ngành chăn nuôi lợn nhằm đáp ứng nhu cầu thực phẩm đô thị, khẳng định vai trò cốt lõi của đàn nái sinh sản trong việc quyết định chất lượng lợn thịt thương phẩm. Tác giả xác lập rõ 4 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, 3 yêu cầu chuyên môn gắn liền với thực hành sản xuất, và giới hạn phạm vi nghiên cứu thực địa trong 6 tháng tại một cơ sở chăn nuôi tư nhân quy mô vừa trên địa bàn huyện Ba Vì, Hà Nội.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Chương này cung cấp bức tranh chi tiết về điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng của trại Nguyễn Đức Binh tại xã Ba Trại (địa hình bán sơn địa, khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, nhiệt độ trung bình năm 23°C, độ ẩm 86,1%, lượng mưa 2.500 mm). Hạ tầng trại gồm 1,2 ha với chuồng đẻ 26 ô (kích thước 2,2 m × 1,6 m × 1,2 m), chuồng bầu 85 ô (kích thước 2,2 m × 0,65 m × 1,2 m), trang bị giàn mát ở đầu chuồng và quạt thông gió công nghiệp ở cuối chuồng. Tiếp đó, tác giả tổng hợp hệ thống lý luận khoa học về sinh lý tiêu hóa, cơ chế tiết sữa, miễn dịch sơ sinh và biến đổi bệnh lý của các bệnh sản khoa (viêm tử cung, viêm vú, mất sữa, sát nhau, chậm động dục) và bệnh lợn con (tiêu chảy, bệnh hô hấp do Mycoplasma). Tác giả dẫn chứng các công trình nghiên cứu trong nước (Nguyễn Văn Thanh, Phạm Sỹ Lăng, Trần Tiến Dũng, Lê Văn Năm...) và nước ngoài (Pierre Brouillet & Bernard Farouilt, Urban, Bilken, Gardner, Trekaxova...) về dịch tễ học và giải pháp can thiệp thú y.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp thực hiện
Trình bày chi tiết đối tượng khảo sát là đàn nái sinh sản và lợn con theo mẹ từ tháng 5/2017 đến tháng 11/2017. Tác giả thiết lập hệ thống định mức dinh dưỡng cụ thể theo từng giai đoạn: lợn nái chửa kỳ 2 (ngày 85 – 111) ăn 1,5 – 2,0 kg/ngày; ngày 111 – 113 giảm còn 1,0 – 1,5 kg/ngày; ngày đẻ cho ăn 0 – 0,5 kg; sau đẻ tăng dần từ 0 – 1,0 kg (ngày 1) lên 2 kg (ngày 2), 3 kg (ngày 3), 4 kg (ngày 4), đạt 5 kg từ ngày thứ 5 trở đi; lợn con được cho tập ăn tự do từ 3 ngày tuổi. Tác giả mô tả chi tiết quy trình vệ sinh sát trùng (phun thuốc sát trùng Ommicide tỷ lệ 320 ml/1.000 lít nước 2 lần/ngày; ngâm tấm đan sàn bằng dung dịch NaOH 10% trong 24 giờ, tẩy rửa chuồng bằng NaOH 5%), phác đồ vắc xin nghiêm ngặt cho nái (Dịch tả, LMLM) và lợn con (sắt, cầu trùng, suyễn Mycoplasma, Circo, Linco Spex), cùng quy trình thao tác lâm sàng chẩn đoán và điều trị từng hội chứng bệnh cụ thể.
Phần 4: Kết quả và thảo luận
Nội dung chương 4 tập trung vào số liệu thực nghiệm thu thập qua 6 tháng trực tiếp theo dõi 93 lợn nái đẻ và đàn con:
- Tình hình biến động đàn 3 năm (2015 – 2017): Đàn nái duy trì từ 125 con (năm 2015) giảm xuống 116 con (năm 2016) và 100 con (tháng 11/2017) do loại thải nái kém chất lượng; sản lượng lợn con đạt 3.025 con (2015), 2.934 con (2016) và 2.530 con (11 tháng đầu năm 2017); đàn lợn thịt xuất chuồng ổn định ở mức 1.100 – 1.120 con/năm. Đàn nái của trại đạt năng suất 2,45 – 2,5 lứa/năm; số con sơ sinh trung bình 12,2 con/đàn; số con cai sữa 11,6 con/đàn.
- Kết quả đỡ đẻ và can thiệp đẻ khó: Trong 93 ca đẻ, có 88 ca đẻ bình thường (đạt 94,62%) và 5 ca đẻ khó cần can thiệp thủ thuật ngoại khoa hoặc tiêm oxytocin (chiếm 5,38%). Tỷ lệ can thiệp đẻ khó biến động từ 0% (tháng 6, 9, 10) đến cao nhất là 11,77% (tháng 8 và tháng 11).
- Năng suất sinh sản của đàn nái qua 6 tháng: Tổng số lợn con sinh ra từ 93 nái là 1.138 con, số lợn con sống đến cai sữa là 1.084 con. Trung bình số con đẻ ra/lứa/nái là $12,21 \pm 0,60$ con; số con sống đến cai sữa/nái là $11,64 \pm 0,54$ con; tỷ lệ sống sót đạt $95,32%$.
- Phân tích nguyên nhân đẻ khó và giải pháp kỹ thuật: Đẻ khó chủ yếu tập trung ở lợn nái lứa đầu, nái béo thừa dinh dưỡng giai đoạn cuối mang thai làm thai quá to, ngôi thai ngược hoặc nái bị kiệt sức; việc can thiệp bằng oxytocin (liều 2 ml/con) kết hợp thụ thuật kéo thai nhẹ nhàng bằng tay đã bảo toàn sức khỏe cho lợn mẹ và lợn con.
Phần 5: Kết luận và đề nghị
Khóa luận đúc kết kết quả đạt được trong việc nắm vững quy trình nuôi dưỡng, đỡ đẻ, kiểm soát dịch bệnh và nâng cao tỷ lệ sống của đàn lợn con tại cơ sở; đồng thời đưa ra các đề xuất về việc tiếp tục kiểm soát chặt chẽ an toàn sinh học và duy trì khẩu phần ăn nghiêm ngặt cho đàn nái.
Kết quả và đóng góp
Các kết quả thực nghiệm và số liệu kỹ thuật nổi bật được tổng hợp qua các bảng số liệu cụ thể:
| Năm khảo sát |
Lợn đực giống (con) |
Lợn nái sinh sản (con) |
Lợn con sản xuất (con) |
Lợn thịt thương phẩm (con) |
| 2015 |
3 |
125 |
3.025 |
1.100 |
| 2016 |
4 |
116 |
2.934 |
1.100 |
| 11/2017 |
3 |
100 |
2.530 |
1.120 |
Bảng 1: Biến động quy mô đàn lợn tại trại Nguyễn Đức Binh qua 3 năm (2015 – 2017)
| Tháng theo dõi (2017) |
Số nái đẻ (con) |
Số con đẻ ra/lứa/nái ($\bar{X} \pm m_{\bar{X}}$) |
Số con cai sữa/nái ($\bar{X} \pm m_{\bar{X}}$) |
Tỷ lệ sống sót đến cai sữa (%) |
Tỷ lệ ca đẻ khó cần can thiệp (%) |
| Tháng 6 |
16 |
$12,18 \pm 0,70$ |
$11,81 \pm 0,60$ |
96,96 |
0,00 |
| Tháng 7 |
18 |
$12,05 \pm 0,55$ |
$11,29 \pm 0,53$ |
93,69 |
5,56 |
| Tháng 8 |
17 |
$12,23 \pm 0,60$ |
$11,70 \pm 0,50$ |
95,67 |
11,77 |
| Tháng 9 |
9 |
$12,22 \pm 0,51$ |
$11,77 \pm 0,52$ |
96,36 |
0,00 |
| Tháng 10 |
16 |
$12,43 \pm 0,63$ |
$11,87 \pm 0,50$ |
95,49 |
0,00 |
| Tháng 11 |
17 |
$12,17 \pm 0,62$ |
$11,41 \pm 0,64$ |
93,75 |
11,77 |
| Tính chung |
93 |
$12,21 \pm 0,60$ |
$11,64 \pm 0,54$ |
95,32 |
5,38 |
Bảng 2: Chỉ tiêu sinh sản của lợn nái và tỷ lệ nuôi sống lợn con từ tháng 6 đến tháng 11 năm 2017
| Đối tượng vật nuôi |
Thời điểm can thiệp |
Loại vắc xin / Dược chất |
Số con được tiêm |
Tỷ lệ tiêm phòng (%) |
Tỷ lệ an toàn (%) |
| Lợn nái mang thai |
Tuần thai thứ 10 |
Coglapest (Dịch tả lợn) |
28 |
100 |
100 |
| Lợn nái mang thai |
Tuần thai thứ 12 |
Aftopor (Lở mồm long móng) |
22 |
100 |
100 |
| Lợn con sơ sinh |
2 – 3 ngày tuổi |
Fe - B12 - HDH (chống thiếu sắt) |
1.220 |
100 |
100 |
| Lợn con sơ sinh |
2 – 3 ngày tuổi |
Toltrazuril (phòng cầu trùng) |
1.220 |
100 |
100 |
| Lợn con theo mẹ |
10 – 14 ngày tuổi |
MycoplasmaVac (phòng suyễn) |
1.204 |
100 |
100 |
| Lợn con theo mẹ |
16 – 18 ngày tuổi |
Circo (phòng còi cọc) |
1.199 |
100 |
100 |
| Lợn con theo mẹ |
22 – 24 ngày tuổi |
Linco Spex (phòng tiêu chảy, hô hấp) |
1.194 |
100 |
100 |
Bảng 3: Kết quả thực hiện lịch trình tiêm vắc xin và dược phẩm dự phòng tại cơ sở
Giải pháp và đề xuất kỹ thuật của tác giả:
- Thiết lập chế độ cho nái ăn giảm dần trước ngày đẻ (giảm 0,5 kg/bữa trước đẻ 5 ngày; ngày đẻ chỉ cho ăn 0 – 0,5 kg) và tăng dần lượng ăn sau đẻ (tăng 0,5 – 1 kg mỗi ngày, đạt 5 kg vào ngày thứ 5 trở đi) giúp lợn mẹ không bị sốt sữa, giảm áp lực tử cung và hạn chế hiện tượng viêm vú, viêm tử cung.
- Kỹ thuật đỡ đẻ phải triệt để tuân thủ thao tác vô trùng: lau nhớt đầu cổ, kích thích hô hấp, thắt dây rốn cách cuống rốn 2,5 cm, cắt rốn cách nút buộc 1,5 cm và nhúng sát trùng cồn iod, đưa vào ô úm 28 – 33°C.
- Phác đồ điều trị viêm tử cung kết hợp rửa tử cung bằng dung dịch thuốc tím loãng 1/1.000 cùng Penicillin kết hợp tiêm toàn thân Hitamox LA (1 ml/10 – 15 kg TT) và Oxytoxin (2 ml/con) mang lại hiệu quả dứt điểm nhanh.
- Đối với lợn đực nuôi thịt, thực hiện thiến hoạn sớm ở ngày thứ 5 kết hợp tiêm amlistin (1 ml/con) giúp vết thương mau lành, lợn con ít bị chấn thương tâm lý (stress).
Đóng góp so với nghiên cứu trước:
Khóa luận đã kiểm chứng sự tương thích giữa lý thuyết chăn nuôi chuẩn hóa với thực tiễn trang trại tư nhân vùng bán sơn địa Ba Vì; cung cấp bộ dữ liệu đầy đủ về tỷ lệ đẻ khó thực tế (5,38%), tỷ lệ nuôi sống lợn con đến cai sữa (95,32%) và chứng minh tính khả thi của phác đồ phối hợp kỹ thuật chăm sóc sơ sinh đồng loạt (mài nanh, bấm tai mã số 22, cắt đuôi, tiêm sắt, cho uống Toltrazuril) trong việc giảm tỷ lệ hao hụt đầu con.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận còn một số điểm hạn chế do giới hạn phạm vi nghiên cứu:
- Đề tài chỉ triển khai theo dõi thực nghiệm trong phạm vi 6 tháng (từ tháng 5 đến tháng 11 năm 2017) tại một cơ sở chăn nuôi tư nhân duy nhất, chưa đánh giá được toàn diện chu kỳ sản xuất qua trọn vẹn các mùa trong năm, đặc biệt là giai đoạn rét đậm rét hại cuối mùa đông và đầu mùa xuân (tháng 12 đến tháng 2 năm sau).
- Số liệu khảo sát hồi cứu năm 2017 của trang trại mới dừng lại ở thời điểm tháng 11, chưa có số liệu tổng kết cả năm 2017.
- Việc chẩn đoán bệnh lý cho đàn nái và lợn con chủ yếu căn cứ vào triệu chứng lâm sàng và kinh nghiệm thực tiễn của kỹ sư/chủ trại, chưa tiến hành các xét nghiệm vi sinh chuyên sâu (phân lập vi khuẩn, nuôi cấy, làm kháng sinh đồ) để định danh chính xác các chủng vi sinh vật gây bệnh tại ổ dịch.
Hướng nghiên cứu và theo dõi tiếp theo:
- Cần mở rộng theo dõi chu kỳ sinh sản và nuôi con của đàn nái qua trọn vẹn 12 tháng liên tục để đánh giá tác động của biến thiên nhiệt ẩm theo mùa tại Ba Vì lên năng suất sinh sản.
- Kết hợp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm nhằm thực hiện kháng sinh đồ định kỳ, xác định mức độ nhạy cảm của các chủng vi khuẩn (E. coli, Mycoplasma, Streptococcus) với các loại kháng sinh đang dùng tại trại.
Giá trị tham khảo
Bản khóa luận có giá trị ứng dụng và tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:
- Sinh viên chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y, Chăn nuôi Thú y: Là tài liệu tham khảo thực tế về phương pháp thu thập số liệu lâm sàng, cách xử lý thống kê sinh học bằng phần mềm Excel, và quy trình thực hiện đồ án tốt nghiệp đại học theo định hướng thực hành nghề nghiệp.
- Cán bộ kỹ thuật và người chăn nuôi tại các trang trại: Có thể áp dụng trực tiếp các định mức khẩu phần ăn theo từng ngày cho nái mang thai và nuôi con; quy trình đỡ đẻ và xử lý sơ sinh (thắt rốn, mài nanh, cắt đuôi, tiêm sắt, thiến hoạn 5 ngày tuổi); lịch vắc xin cụ thể cho lợn con và lợn nái; cùng các phác đồ dùng thuốc điều trị viêm tử cung, viêm vú, mất sữa, sát nhau và bại liệt sau sinh.
- Các nội dung đáng chú ý nhất: Phần quy trình kỹ thuật đỡ đẻ và can thiệp đẻ khó (Mục 3.2), bảng phân chia khẩu phần ăn từng giai đoạn (Bảng khẩu phần trang trại), và bảng thống kê kết quả chỉ tiêu sinh sản nái kèm độ sai lệch chuẩn qua 6 tháng thực tập (Bảng 4.5).
Câu hỏi thường gặp
Khẩu phần ăn của lợn nái tại trang trại Nguyễn Đức Binh được điều chỉnh như thế nào trong những ngày quanh thời điểm sinh?
Theo quy trình của trại, lợn nái chửa kỳ 2 (85 – 111 ngày) ăn 1,5 – 2,0 kg/ngày; từ ngày 111 – 113 giảm xuống 1,0 – 1,5 kg/ngày; ngày đẻ chỉ cho ăn 0 – 0,5 kg (hoặc nhịn ăn, uống nước tự do). Sau khi đẻ, lượng cám tăng dần: ngày đầu tiên cho ăn 0 – 1,0 kg; ngày thứ 2 ăn 2 kg; ngày thứ 3 ăn 3 kg; ngày thứ 4 ăn 4 kg; từ ngày thứ 5 trở đi cho ăn tiêu chuẩn 5 kg/ngày (nái gầy hoặc nuôi nhiều con có thể tăng lên 7 kg/ngày). Vào ngày cai sữa, lượng thức ăn giảm mạnh xuống 0 – 0,5 kg và hạn chế nước uống.
Quy trình tiêm phòng và bổ sung thuốc phòng bệnh cho lợn con theo mẹ tại trang trại diễn ra vào những ngày tuổi nào?
Lợn con được can thiệp theo lịch trình: lúc 2 – 3 ngày tuổi tiêm chế phẩm phòng thiếu sắt Fe-B12-HDH và cho uống thuốc cầu trùng Toltrazuril; lúc 10 – 14 ngày tuổi tiêm vắc xin phòng suyễn MycoplasmaVac; lúc 16 – 18 ngày tuổi tiêm vắc xin phòng bệnh còi cọc Circo; từ 22 – 24 ngày tuổi tiêm thuốc phòng tiêu chảy và hô hấp Linco Spex. Toàn bộ các đợt tiêm/uống thuốc đều đạt tỷ lệ 100% an toàn trên tổng số đàn theo dõi.
Tỷ lệ đẻ khó phải can thiệp và nguyên nhân gây đẻ khó trên đàn lợn nái của trại được ghi nhận ra sao?
Trong 6 tháng thực tập theo dõi 93 ca nái đẻ, có 5 ca phải can thiệp đẻ khó, chiếm tỷ lệ trung bình 5,38% (88 ca đẻ bình thường, đạt 94,62%). Tỷ lệ can thiệp biến động từ 0% đến 11,77% tùy tháng. Nguyên nhân chính do lợn nái đẻ ở lứa đầu, nái ăn nhiều ở giai đoạn cuối thai kỳ làm thai quá to, ngôi thai không thuận, lợn mẹ ít vận động hoặc thể trạng yếu, kiệt sức trong khi rặn.
Phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung cấp tính trên lợn nái tại cơ sở được triển khai bằng những loại thuốc và liều lượng nào?
Tại trại, phác đồ điều trị kết hợp thụt rửa tử cung 2 lần/ngày trong 2 ngày liên tục bằng dung dịch thuốc tím loãng 1/1.000 pha nước sạch kết hợp Penicillin; đồng thời tiêm bắp toàn thân trong 3 ngày gồm: kháng sinh Hitamox LA (1 ml/10 – 15 kg thể trọng/2 ngày), Oxytoxin (2 ml/con để tăng co bóp tống sản dịch), thuốc hạ sốt giảm đau Analgin (1 ml/10 kg thể trọng) và thuốc trợ sức Vitamin B1 (5 ml/30 kg thể trọng).
Quy chuẩn thực hiện các thao tác kỹ thuật sơ sinh trên lợn con tại trang trại có những đặc thù gì?
Sau khi đẻ và bú sữa đầu cứng cáp, lợn con được tiến hành mài nanh, bấm số tai theo mã số 22 của trại kèm tuần sinh, cắt đuôi, uống cầu trùng và tiêm sắt Fe-Dextran-B12 (2 ml/con) lúc 3 ngày tuổi đồng loạt để giảm stress. Riêng lợn đực nuôi thịt được thiến hoạn sớm vào ngày tuổi thứ 5: tiêm kháng sinh amlistin (1 ml/con) trước khi thiến, rạch hai vết đứt chính giữa dịch hoàn, dùng panh kẹp giật đứt thừng dịch hoàn và sát trùng bằng cồn. Lợn con được cai sữa lúc 21 ngày tuổi (chậm nhất 28 ngày) và xuất bán sau nuôi thêm 2 – 5 ngày.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Thái Hữu Minh phản ánh toàn diện quy trình kỹ thuật chăn nuôi, chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trang trại tư nhân Nguyễn Đức Binh trong 6 tháng thực địa. Thông qua việc chuẩn hóa quy trình cho ăn, đỡ đẻ khoa học và thực hiện lịch phòng bệnh bằng vắc xin nghiêm ngặt, đàn nái đạt năng suất $12,21 \pm 0,60$ con đẻ ra/lứa, tỷ lệ sống sót của lợn con đến khi cai sữa đạt mức cao 95,32% với tỷ lệ đẻ khó được kiểm soát ở mức 5,38%. Công trình cung cấp bộ dữ liệu thực tiễn tin cậy và các phác đồ điều trị bệnh sản khoa, bệnh lợn con cụ thể, đóng vai trò là tài liệu tham khảo có giá trị ứng dụng cao cho sinh viên ngành Chăn nuôi Thú y cũng như các cơ sở chăn nuôi lợn tập trung.