Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu. Chương 2: Đánh giá thực trạng và tiềm năng sử dụng đất. Hiện trạng xây dựng nông thôn mới tại xã Quỳnh Hưng, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Đề xuất định hướng quy hoạch sử dụng đất phục vụ xây dựng nông thôn mới tại xã Quỳnh Hưng, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
4 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Quy hoạch sử dụng đất 1. Khái niệm và đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất 1. Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất Về mặt thuật ngữ, "quy hoạch" là việc xác định một cách trật tự nhất định như phân bổ, bố trí, tổ chức, sắp xếp,… "đất đai" là một phần như lãnh thổ nhất định có vị trí hình thể, diện tích với những tính chất tự nhiên hoăc mới tạo thành, tạo ra những điều kiện nhất định cho việc sử dụng theo các mục đích khác nhau [14].
Quy hoạch sử dụng đất theo nghĩa thông thường: là sự phân bổ, bố trí đất đai cho các mục đích phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng của cả nước và từng địa phương trong một giai đoạn nhất định trong tương lai. Mặt khác, việc phân bổ và bố trí đất đai phục vụ mục đích phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng cần dựa trên những thuộc tính tự nhiên, vị trí, diện tích đất đai được sử dụng mà hiệu quả sử dụng đất được thể hiện chính ở hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường. Quy hoạch sử dụng đất theo nghĩa rộng có thể được hiểu là một hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật, pháp chế của nhà nước được sử dụng để đánh giá tiềm năng đất đai một cách hệ thống, tính thay đổi trong sử dụng đất và những điều kiện kinh tế xã hội để chọn lọc và thực hiện các sự chọn lựa sử dụng đất tốt nhất để tổ chức sử dụng đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả cao. Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt Đất đai là điều kiện đầu tiên đối với hoạt động sản xuất vật chất của con người, nó vừa là đối tượng lao động, vừa là phương tiện lao động.
Vì vậy đất đai là tư liệu sản xuất. Tư liệu sản xuất đất đai có tính khác biệt so với các tư liệu sản xuất khác: Đặc điểm tạo thành : Đất đai xuất hiện và tồn tại trước khi loài người xuất hiện, nó tồn tại ngoài ý thức của con người, là sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động và là 5 z điều kiện tự nhiên, chịu sự tác động của lao động, khi con người tác động vào thì đất đai mới trở thành tư liệu sản xuất. Tính hạn chế về số lượng: Các tư liệu sản xuất có thể tăng về số lượng, chế tạo lại tùy theo nhu cầu xã hội. Còn đất đai là tài nguyên hạn chế, diện tích đất bị giới hạn bởi ranh giới đất liền trên mặt đất.
LêNin đã nói đất đai thì có hạn nhưng sản xuất của nó thì vô hạn, nếu con người biết sử dụng nó một cách thông minh và sáng tạo thì sức sản xuất của nó không ngừng được tăng lên. Tính không đồng nhất: Đất đai không đồng nhất về số lượng, hàm lượng chất dinh dưỡng, các tính chất lí hóa… Nó được quy định bởi quy luật địa lí (quy luật địa đới, quy luật phi địa đới…). Tính không thể thay thế: Đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế. Còn các tư liệu sản xuất khác có thể thay thế bằng các tư liệu sản xuất khác hoàn thiện hơn, hiệu quả hơn.
Tính cố định về vị trí: Đất đai hoàn toàn cố định về vị trí, trong quá trình sử dụng không thể di chuyển được. Còn các tư liệu sản xuất khác được sử dụng ở mọi nơi mọi chỗ và có thể di chuyển được. Tính vĩnh cửu: Đất đai là tư liệu sản xuất vĩnh cửu, không phụ thuộc vào tác động phá hoại của thời gian. Nếu biết sử dụng hợp lí trong sản xuất đất sẽ không bị hư hỏng, ngược lại có thể tăng tính sản xuất.
Vai trò của quy hoạch sử dụng đất Như vậy, về thực chất quy hoạch sử dụng đất đai là quá trình hình thành các quyết định nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng bền vững để mang lại lợi ích cao nhất, thực hiện đồng thời 2 chức năng: điều chỉnh các mối quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất đặc biệt với mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội, kết hợp bảo vệ đất và môi trường [14]. Việc lập quy hoạch sử dụng đất với có ý nghĩa đặc biệt trong sự phát triển kinh tế xã hội lâu dài cũng như trước mắt của một nền kinh tế. Dựa trên những đặc điểm điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội, quy hoạch sử dụng đất định hướng sự phát triển lâu dài của một khu vực theo hướng thuận lợi khi 6 z sử dụng triệt để những thuận lợi, hạn chế và khắc phục tối đa những khó khăn của khu vực đó - xác lập ổn định tính pháp lý cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai. Cũng với những căn cứ trên sẽ là cơ sở để các cơ quan có thẩm quyền quyết định việc giao đất, đầu tư để phát triển sản xuất, đảm bảo an ninh phục vụ nhu cầu của nhân dân.
Mặt khác, quy hoạch sử dụng đất là công cụ của Nhà nước nhằm tổ chức việc sử dụng đất đai một cách hiệu quả, hợp lý; hạn chế tối đa việc sử dụng đất trái mục đích sử dụng đất, đặc biệt đối với đất nông nghiệp chuyên trồng lúa nước. Không những thế, quy hoạch sử dụng đất được thực hiện nghiêm túc còn làm ngăn ngừa được các hiện tượng tiêu cực như tranh chấp, lấn chiếm đất đai… làm huỷ hoại, phá vỡ, gây ô nhiễm môi trường. Trên cơ sở hạ tầng, bố trí đất đai, quy hoạch sử dụng đất tạo điều kiện cho người sử dụng đất hiểu rõ được quyền và nghĩa vụ của mình để sử dụng đất sao cho hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả. Căn cứ và nội dung quy hoạch sử dụng đất 1.
Căn cứ của quy hoạch sử dụng đất Căn cứ điều 22 của luật đất đai năm 2003 [10]; quy hoạch sử dụng đất được xây dựng dựa trên những yếu tố như sau: 1) Chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của cả nước; quy hoạch phát triển của các ngành và các địa phương; 2) Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước; 3) Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và nhu cầu của thị trường; 4) Hiện trạng sử dụng đất và nhu cầu sử dụng đất; 5) Định mức sử dụng đất; 6) Tiến bộ khoa học và công nghệ có liên quan đến việc sử dụng đất; 7) Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất kỳ trước. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội là quy hoạch tầm vĩ mô của Nhà nước nhằm bố trí, sắp xếp các ngành nghề, các nguồn lực sản xuất xã hội sao cho hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả nhất. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội xây 7 z dựng mục tiêu, phương hướng và kế hoạch cho các hoạt động của toàn bộ lĩnh vực trong xã hội. Góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước một cách toàn diện và bền vững.
Định hướng kinh tế - xã hội là cơ sở cho các quy hoạch khác xác định và định hướng thực hiện. Định hướng kinh tế - xã hội nó vạch ra hướng đi ở tầm vĩ mô cho các ngành, các lĩnh vực nhằm thúc đẩy các ngành phát triển đúng hướng. Nó chỉ ra nhu cầu của các ngành, trong đó chỉ rõ nhu cầu sử dụng đất của các ngành, bởi đất đai là tiền đề, là cơ sở, là nền tảng cho mọi hoạt động sản xuất trong xã hội. Từ bộ khung mà định hướng kinh tế - xã hội xây dựng lên giúp cho quy hoạch sử dụng đất đai cũng như các quy hoạch khác thực hiện một cách nhanh chóng và hiệu quả cao.
Quy hoạch sử dụng đất dựa vào định hướng kinh tế xã hội. Quy hoạch sử dụng đất căn cứ vào bộ khung của định hướng phát triển kinh tế xã hội đã vạch ra sẵn để cụ thể hóa và chi tiết hóa các chi tiết, các nhân tố của định hướng phát triển kinh tế - xã hội. Định hướng phát triển kinh tế xã hội đã xác định rõ quy mô, địa điểm và phương hướng hoạt động của từng vùng, từng lĩnh vực. Tuy nhiên, để quy hoạch sử dụng đất đai đạt tính hiệu quả cao, các nhà quy hoạch không chỉ căn cứ vào định hướng phát triển kinh tế - xã hội, căn cứ pháp lý của quy hoạch sử dụng đất mà còn phải căn cứ vào hiện trạng sử dụng đất và tiềm năng sử dụng đất đai của từng địa phương: tổng quỹ đất tự nhiên, quỹ đất cho phát triển các ngành, các vùng và tất cả các thành phần kinh tế quốc dân.
Việc quy hoạch sử dụng đất phải dựa trên những số liệu thực tế của quá trình sử dụng đất để biết, để đánh giá chỗ nào là quy mô thích hợp, chưa thích hợp, sử dụng đất chưa hợp lý, chưa tiết kiệm, phát hiện ra những vùng, các thành phần có khả năng mở rộng quy mô tương lai, lấy nó làm căn cứ, làm cơ sở cho việc bố trí, sắp xếp và phân bố đất đai sao cho đầy đủ, hợp lý và tiết kiệm cao nhất, từ đó có được những thông tin về điều kiện thuận lợi cũng như khó khăn, những vấn đề đạt được và chưa đạt được trong quá trình sử dụng đất…để đưa ra những quyết định quy hoạch cụ thể. Nội dung quy hoạch sử dụng đất đai 8 z Điều 23 Luật đất đai 2003 quy định [10]: 1) Điều tra, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và hiện trạng sử dụng đất; đánh giá tiềm năng đất đai; 2) Xác định phương hướng, mục tiêu sử dụng đất trong kỳ quy hoạch; 3) Xác định diện tích các loại đất phân bổ cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh; 4) Xác định diện tích đất phải thu hồi để thực hiện các công trình, dự án; 5) Xác định các biện pháp sử dụng, bảo vệ, cải tạo đất và bảo vệ môi trường; 6) Giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất.