CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VA PHUONG PHAP NGHIEN CUU 1.1 Tổng quan về tinh hình nghiên cứu. Chẻ là cây công nghiệp dài ngày được nhân dân các dân tộc của tỉnh Hà Giang trồng từ lâu đời. Cây chè rất thích hợp với khí hậu và đất đai tại địa bàn, trồng một lần thu hoạch nhiều năm do tuổi thọ kéo dài hàng chục năm đến vai trăm năm. Cây chè cho sản phẩm nước uống được thị trường ngày càng ưa chuộng, có tiềm năng và giá trị xuất khẩu cao.
Đồng thời trồng chè cũng chính là giải pháp phủ xanh đồi núi trọc, cải thiện môi trường sinh thái ở địa phương. Đến năm 2015 toàn tỉnh ôn định diện tích chè ở mức 20,5 nghìn ha và tăng lên 24,3 nghìn ha vào năm 2020, trong đó có 21 nghìn ha cho sản phẩm, năng suất bình quân đạt 59,4 tạ/ha, nâng sản lượng chè búp tươi lên trên 124 nghìn tắn/năm; tập trung đây mạnh thâm canh nâng cao năng suất, sản lượng, cải tạo diện tích chè gia, áp dụng tiễn bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, cải tiến công nghệ chế biến dé nâng cao chất lượng, da dạng hoá sản phẩm chè. Đối với huyện Hoàng Su Phì, cây chè đã được huyện xác định là cây công nghiệp mũi nhọn, cây xóa đói giảm nghèo bền vững, tạo việc làm cho người lao động, tăng thu nhập cho nhân dân, chè là cây truyền thống và có giá trị kinh tế cao của huyện Hoàng Su Phì. Một trong những thuận lợi cho việc trồng chè là nhân dân các dân tộc trong huyện có kinh nghiệm về trồng, chế biến chè và đã biết tận dụng lợi thế về đất đai, khí hậu cho việc phát triển cây chè.
Chè là cây trồng đóng góp đáng kể cho thu nhập kinh tế của huyện, thu hút trên 4.000 hộ tham gia trồng chè. Phát triển ngành chè cũng là định hướng phát triển của huyện. Theo số liệu thống kê năm 2011 của huyện thì tổng thu nhập từ cây chè đạt trên 50 ty đồng, năm 2012 đạt 66 tỷ đồng, trong đó: bình quân thu nhập từ cây chè của các xã vùng chè chiếm 50-55% tổng thu nhập trong năm của hộ nông dân. Hiện nay tổng giá trị thu từ cây chè hàng năm khoảng trên 80 tỷ đồng, chiếm 13% tổng sản phâm xã hội toàn huyện Chè Shan tuyết của huyện Hoàng Su Phì là cây chè bản địa có từ lâu đời và cũng là một trong những giống chè quý cần được bảo tồn và nhân rộng.
Chè Shan tuyết được coi là đặc sản có hương vi độc đáo, là loại chè sạch đang được ưa chuộng trên thị trường do cây chẻ mọc trên vùng núi cao, không bị phun phun thuốc sâu và sử dụng các hoá chất khác, được người dân thu hái và chế biến thủ công. Mặc dù chè là một cây công nghiệp mũi nhọn mang lại thu nhập chính cho người dân và đóng góp vào ngân sách của huyện nhưng việc sản xuất, chế biến, kinh doanh chè ở huyện vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế. Mật độ của các vườn chè chưa đúng kỹ thuật, trồng theo phương thức quảng canh nên năng suất, sản lượng chè còn thấp. Cùng với đó, một số địa phương còn có biểu hiện chạy theo thành tích mới chỉ mở rộng diện tích chứ chưa chú trọng vào công tác chỉ đạo đầu tư thâm canh nhằm tăng năng suất, tăng thu nhập cho nhân dân, tăng nguồn thu ngân sách.
Dù sản lượng chè búp tươi tăng đều qua các năm nhưng tăng chủ yếu là do diện tích chè cho thu hoạch tăng chứ năng suất chè tăng không đáng kẻ. Việc đầu tư cơ sở chế biến chưa đồng bộ, chỉ tập trung ở những nơi thuận đường giao thông nhưng lại xa vùng nguyên liệu dẫn đến thời gian từ khi thu hái đến chế biến kéo dài ảnh hưởng đến chất lượng mặc dù huyện đã ban hành triển khai thực hiện một số cơ chế chính sách về phát triển cây chè, như hỗ trợ trồng mới, trồng dim chè, hỗ trợ một lần cho các Hợp tác xã chế biến chè như: Hợp tác xã chế biến chè Phìn Hồ; Hợp tác xã chế biến chè Chiến Hao; Hợp tác xã chế biến chè Thuận An; Hợp tác xã chế biến chè Hồ Thau, nhưng chưa đủ mạnh dé tăng diện tích - năng xuất - sản lượng chè tương ứng với tiềm năng thế mạnh. Công tác xây dựng thương hiệu, quảng bá sản phẩm đã có nhưng mới chi tập trung ở một số doanh nghiệp lớn. Nhiều cơ sở sản xuất chưa thực sự chú trọng trong việc đầu tư công nghệ và xây dựng thương hiệu và nhãn mác của sản phẩm dẫn đến sản phâm sản xuất đơn điệu.
Sản phẩm xuất khẩu chủ yếu chè xanh, chè vàng và chè den ở dang thô có giá trị xuất khẩu thấp. Công tác quy hoạch của huyện chưa thực hiện, việc quản lý giống còn hạn chế, chưa chủ động trong việc sản xuất giống, cung ứng giống nên ảnh hưởng nhiều đến chất lượng nguyên liệu chè. Chính vì vậy xác định việc phát triển chè là hướng quan trọng nhằm thúc đây tăng thu nhập cho nông dân nông thôn Trong những năm qua, Chính phủ và Uy ban nhân dân tỉnh Hà Giang cũng như UBND huyện Hoàng Su Phì có nhiều quyết định, chỉ thị, công văn về định hướng phát triển cho cây chè. Cụ thể là: - Quyết định 198/QĐ-UBND ngày 22/1/2013 của UBND tỉnh Hà Giang về việc phê duyệt quy hoạch tổng thé phát triển kinh tế xã hội huyện Hoàng Su Phì đến năm 2020.
Trong đó có tập trung phát triển cây chè với quy mô lớn, tập trung quy hoạch các cơ sở chế biến. Mục tiêu phân đấu mỗi năm trồng 300ha, đến năm 2020 diện tích chè toàn huyện đạt 4.530 ha (trong đó diện tích chè shan tuyết 1.500 ha, 1 số giống chè năng suất cao 500ha) năng suất 45 tạ/ha, sản lượng ước đạt khoảng 20. - Quyết định 996/QĐ-UBND tỉnh ngày 29/5/2013 của UBND tinh Hà Giang về phê duyệt quy hoạch phát triển cây chè tỉnh Hà Giang từ 2013 năm 2020. Với mục tiêu tổng quát là xác định lại quy mô diện tích phù hợp cho các huyện trọng điểm trồng chè, trên cơ sở đó có kế hoạch cụ thé dé nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, tạo sức cạnh tranh trên thị trường.
Phát triển cây chè một cách beeng vững, tạo công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao mức sông và góp phân vào phát triên kinh tê xã hội. - Quyết định số: 2491/QD- UBND ngày 5/11/2013 của UBND tỉnh về quy hoạch sản suất nông lâm nghiệp - thủy sản và sắp sếp ổn định dân cư Huyện Hoàng su Phì năm 2020 với mục tiêu tập trung xây dựng hệ thống chính trị của huyện vững mạnh, chuyền dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, bố trí ôn dinh dân cư, xây dựng cơ sở hạ tang trong đó tập trung trồng chè cho 9 xã phía nam, quy hoạch theo vùng gắn với các cơ sở chê biên nguyên liệu. - Nghị quyết số 11-NQ/TU ngày 10 tháng 10 năm 2012 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa giai đoạn 2012-2015, có tính đến năm 2020. Mục tiêu tổng quát phát triển hàng hóa nông nghiệp theo hướng bền vững, chu trọng vào những sản phẩm có lợi thế, sản xuất hàng hóa tập trung theo quy hoạch.tập trung đầu tư và phát triên các sản phâm chính như: gạo đắc san, cam, chè shan tuyết.
Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách hoàn chỉnh cụ thể và có hệ thống về quy hoạch phát triển sản xuất ngành chè của huyện Hoàng Su Phì.2 Xây dựng quy hoạch ngành chè của huyện 1.1 Khái niệm quy hoạch Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm quy hoạch. Theo từ điển mở (wiktionary) thì quy hoạch là quá trình sắp xếp, bồ trí các đối tượng quy hoạch vào một không gian nhất định nhằm đạt được mục tiêu của kế hoạch đề ra. Cách định nghĩa chung nhất thì quy hoạch là một bản luận chứng khoa học về sự phát triển của ngành trên phạm vi cả nước hoặc một vùng lãnh thổ một cách hợp lý nhằm thực hiện có hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội.2 Những yêu cầu cơ bản của quy hoạch - Thời gian quy hoạch cần thống nhất với thời gian quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Thời gian để thực hiện quy hoạch là 10-15 năm cũng có thê thời gian kéo dài hơn nữa.
- Nội dung của quy hoạch là căn cứ xây dựng kế hoạch, đưa ra những định hướng co bản, mềm dẻo và giải pháp thực hiện làm căn cứ dé xây dựng kế hoạch phát triển. - Nội dung quy hoạch ngành không được nghiên cứu đơn lẻ tách rời nhau mà phải xem xét trong mối quan hệ qua lại, tác động, bổ sung, phù hợp với nhau trong định hướng chung phát triển kinh tế xã hội đồng thời đạt được sự hài hoà trên từng vùng lãnh thé nhất định. - Quy hoạch ngành là một quá trình động nên cần được nghiên cứu bổ sung thường xuyên số liệu và giải pháp tiến hành cho phù hợp với sự thay đôi của từng thời kỳ.3 Các bước dé lập quy hoạch - Bước 1:Thu thập các yêu cầu quy hoạch: thực trang vùng nguyên liệu, các cơ sở chế biến, áp dụng khoa học kỹ thuật.Phân tích các thông tin kết hợp với mục tiêu và các chính sách phát triển kinh tế xã hội của huyện đặc biệt là các chính sách liên quan đến ngành chè. - Bước 2: Phác thảo sơ đồ quy hoạch, đưa ra chương trình tổng quát dé thực thi đề án, một bản dự toán tổng thể về các nguồn lực cần sử dụng, đặc biệt là vấn đề tài chính.
- Bước 3: Cùng với các cán bộ, chuyên viên có kiến thức về quy hoạch bàn bạc và đưa ra bản quy hoạch cuối cùng. - Bước 4: Khi đã có phương án quy hoạch chính quyền địa phương cần đưa ra dé tham khảo và lay ý kiến của cộng đồng chỉnh sửa bản quy hoạch lần 10 cuôi. Lập kê hoạch có sự tham gia đóng góp của người dân sẽ có bản kê hoạch hoàn chỉnh, sát thực và khả thi. - Bước 5: Dua ra trình UBND, HĐND phê duyệt - Bước 6: Tiến hành thực hiện quy hoạch từng bước một theo kế hoạch.
- Bước 7: Trong quá trình thực hiện quy hoạch, cần phải có cán bộ chuyên trách theo dõi cập nhật tình hình để có những điều chỉnh phù hợp với thực tiễn.