phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu, chữ viết tắt, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo luận văn gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản trị vốn luân chuyển trong doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản trị vốn luân chuyển tại Công ty Cổ phần Sông Đà 4 Chƣơng 3: Hoàn thiện công tác quản trị vốn luân chuyển tại Công ty Cổ phần Sông Đà 4 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Vốn luân chuyển là đề tài đã đƣợc trình bày trong những tài liệu trƣớc đây nhƣ: Nguyễn Tấn Bình (2013), Quản trị tài chính, NXB Thống Kê; Đoàn Gia Dũng, Quản trị tài chính của trƣờng Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng; Nguyễn Thanh Liêm – Nguyễn Thị Mỹ Hƣơng (2007), Quản trị tài chính, NXB Thống kê. Các giáo trình và bải giảng trên đã trình bày cụ thể và đầy đủ về quản trị vốn luân chuyển trong doanh nghiệp và các vấn đề có liên quan. Tuy nhiên, các tài liệu này thƣờng gắn công tác quản trị vốn luân chuyển với Luan van 4 những công tác quản trị tài chính và phân tích tính hình tài chính nói chung.
Đồng thời, một số nghiên cứu về quản trị vốn luân chuyển đã đƣợc nghiên cứu trong một số Doanh nghiệp cụ thể nhƣ: Cote và Latham (1999) nhấn mạnh việc quản trị số ngày phải thu, tồn kho và phải trả một cách hiệu quả có thể ảnh hƣởng tích cực tới dòng tiền của Công ty. Cuối cùng dòng tiền đóng một vai trò sống còn trong quyết định sự tồn tại của Công ty. Moyer và công sự (2003) tìm ra rằng vốn luân chuyển chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng đầu tƣ của công ty vào tài sản, 40% trong các công ty sản xuất, 50-60% đối với các doanh nghiệp bán lẻ và bán sỉ. Công ty có thể giảm chi phí tài chính và tăng nguồn quỹ cho việc mở rộng sản xuất nếu họ giảm xuống mức tối thiểu nguồn vốn bị cột chặt trong tài sản ngắn hạn.
Nobanee và cộng sự (2011) sử dụng dữ liệu của 2.123 Công ty phi tài chính Nhật Bản để nghiên cứu và kết luận đƣợc nhà quản trị có thể tăng lợi nhuận thông qua giảm độ dài của kỳ luân chuyển tiền mặt. Gill, Biger và Mathur (2015) nghiên cứu trong phạm vi 88 Công ty ở NewYork trong khoảng thời gian 2005-2007. Số ngày phải thu, số ngày phải trả, số ngày tồn kho, logarit của doanh thu, tỷ số nợ và vốn cổ phần là các biến độc lập. Thu nhập hoạt động là biến phụ thuộc.
Họ đã thống nhất đƣợc có tồn tại mối quan hệ ngƣợc chiều giữa lợi nhuận và số ngày phải thu. Vì vậy Công ty cần phát triển các chiến lƣợc hiệu quả nhằm thu hồi các khoản nợ đúng hạn. Các tác giả cũng kết luận rằng mối quan hệ giữa vòng quay tiền mặt và lợi nhuận là cùng chiều. Ở Việt Nam, đã có một số công trình nghiên cứu về vốn lƣu chuyển nhƣ Trần Ngọc Hòa (2016) đã nghiên cứu về thực trạng quản trị vốn lƣu chuyển tại Công ty xăng dầu Bắc Tây Nguyên - Chi nhánh xăng dầu Kon Tum đã đƣa ra những giải pháp trung ở 4 nội dung chính: Nhóm giải pháp về Luan van 5 quản trị vốn bằng tiền; Giải pháp quản trị khoản phải thu; Giải pháp quản trị hàng tồn kho và nhóm giải pháp khác để nâng cao hiệu quả quản trị vốn luân chuyển tại Công ty xăng dầu Bắc Tây Nguyên - Chi nhánh xăng dầu Kon Tum.
Tuy nhiên, đề tài còn hạn chế nhƣ luận văn chỉ mới tập trung vào giải pháp quản trị vốn luân chuyển chủ yếu ở lĩnh vực thƣơng mại. Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hồng Ánh (2016) đã nghiên cứu về thực trạng quản trị vốn lƣu chuyển tại Công ty cổ phần Dƣợc – Thiết bị y tế Đà Nẵng (DAPHARCO) đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản trị vốn luân chuyển. Tác giả cũng đã phân tích thực trạng và đƣa ra những giải pháp để nâng cao hiệu quả quản trị vốn luân chuyển nhƣng đề tài còn hạn chế là mới chỉ chú trọng lĩnh vực thƣơng mại và các giải pháp đƣa ra chủ yếu tập trung trong lĩnh vực quản lý khoản phải thu. Nghiên cứu của Nguyễn Tiến Nhật (2012) về quản trị vốn luân chuyển tại công ty cổ phần Sông Đà 10 đã đƣa ra đƣợc những vấn đề cơ bản về quản trị vốn luân chuyển; những giải pháp hoàn thiện công tác quản trị vốn luân chuyển tại một đơn vị có nhiều nét tƣơng đồng với Công ty Cổ phần Sông Đà 4.
Tuy nhiên, luận văn chỉ mới tập trung vào giải pháp quản trị vốn luân chuyển chủ yếu ở khâu sản xuất, chƣa tập trung nhiều giải pháp quản trị vốn luân chuyển ở lĩnh vực thƣơng mại. Mặc dù hệ thống lý thuyết về quản trị vốn luân chuyển đã đầy đủ và các nghiên cứu về quản trị vốn luân chuyển đã đƣợc thực hiện khá nhiều nhƣng chƣa có một công trình hay một đề tài nào nghiên cứu một cách đầy đủ về công tác quản trị vốn luân chuyển tại Công ty Cổ phần Sông Đà 4, cho nên việc nghiên cứu lần này đƣợc xem là công trình đầu tiên, là cơ sở để nghiên cứu đƣợc triển khai thực hiện. Luan van 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ VỐN LUÂN CHUYỂN TRONG DOANH NGHIỆP 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VỐN LUÂN CHUYỂN TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Khái niệm và đặc điểm của vốn luân chuyển trong doanh nghiệp a. Khái niệm vốn luân chuyển Vốn luân chuyển theo nghĩa rộng là giá trị của toàn bộ tài sản lƣu động, là những tài sản gắn liền với chu kỳ kinh doanh của công ty. Trong mỗi chu kỳ kinh doanh, chúng chuyển hoá qua tất cả các dạng tồn tại từ tiền mặt đến tồn kho, khoản phải thu và trở về hình thái cơ bản ban đầu là tiền. Với sự chuyển hoá nhanh nhƣ vậy, các hoạt động quản trị vốn luân chuyển chiếm gần nhƣ phần lớn thời gian và tâm trí của các nhà quản trị tài chính.
Nhiệm vụ đáp ứng đầy đủ nhu cầu vốn cho vốn luân chuyển là yếu tố thúc đẩy sự chuyển hoá nhanh chóng giữa các hình thái tồn tại cơ bản của tài sản lƣu động để liên tục sản sinh ra ngân quỹ. [4] Khi nghiên cứu về vốn luân chuyển trong doanh nghiệp thì chúng ta cũng tìm hiểu thêm về vốn luân chuyển ròng của một doanh nghiệp. Vốn luân chuyển ròng của doanh nghiệp là phần giá trị tổng tài sản ngắn hạn trừ tổng nợ ngắn hạn. [7], [8] Vốn luân chuyển ròng = Tổng tài sản ngắn hạn - Tổng nợ ngắn hạn Vốn luân chuyển ròng dƣơng có nghĩa là doanh nghiệp có khả năng chi trả đƣợc các nghĩa vụ nợ ngắn hạn của mình.
Ngƣợc lại, nếu vốn luân chuyển ròng là một số âm đồng nghĩa với việc nợ ngắn hạn lớn hơn tài sản ngắn hạn. Thực chất trong trƣờng hợp này là việc doanh nghiệp đang sử dụng một phần Luan van 7 nợ ngắn hạn đầu tƣ vào tài sản dài hạn, điều này dẫn đến tình trạng hết sức nguy hiểm ảnh hƣởng đến cán cân thanh toán cũng nhƣ khả năng thanh khoản của doanh nghiệp. Vì những khoản nợ ngắn hạn có chung đặc điểm là thời hạn ngắn, phải hoàn trả tƣơng đối gấp, trong khi khả năng chuyển hóa thành tiền của tài sản dài hạn lại rất chậm, thu hồi trong nhiều năm. Đặc điểm của vốn luân chuyển - Vốn luân chuyển có tốc độ luân chuyển nhanh.
Vốn luân chuyển hoàn thành một vòng tuần hoàn sau khi kết thúc một chu kỳ sản xuất kinh doanh. - Vốn luân chuyển là biểu hiện bằng tiền của tài sản ngắn hạn nên đặc điểm vận động của vốn luân chuyển chịu sự chi phối bởi những đặc điểm của tài sản ngắn hạn. - Vốn luân chuyển vận động theo một vòng tuần hoàn, từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu chuyển sang hình thái vốn vật tƣ hàng hoá dự trữ và vốn sản xuất, rồi cuối cùng lại trở về hình thái vốn tiền tệ. Mua vật tƣ Sản xuất Vốn bằng tiền Vốn dự trữ sản Vốn trong sản xuất hàng hoá xuất sản phẩm Tiêu thụ sản phẩm Hình 1.
Vòng chu chuyển của vốn luân chuyển (Nguồn: https://voer.vn/m/von-luu-dong-cua-doanh-nghiep-trong-nen- kinh-te-thi-truong /3c6d0cc0) 1. Phân loại vốn luân chuyển Để có thể quản lý và sử dụng vốn luân chuyển một cách hợp lý và có hiệu quả thì vốn luân chuyển cần phải đƣợc phân loại. Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại vốn luân chuyển, trong đó vốn luân chuyển thƣờng đƣợc phân loại nhƣ sau: Luan van 8 a. Phân loại theo vai trò từng loại vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh Trong phƣơng pháp phân loại này vốn luân chuyển đƣợc chia ra là thành ba loại: - Vốn luân chuyển trong khâu dự trữ sản xuất: Bao gồm giá trị các khoản nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, động lực, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ.
- Vốn luân chuyển trong khâu sản xuất: Bao gồm các khoản giá trị sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, các khoản chi phí chờ kết chuyển. - Vốn luân chuyển trong khâu lƣu thông: Bao gồm các khoản giá trị thành phẩm, vốn bằng tiền (kể cả vàng, bạc, đá quý…); các khoản đầu tƣ ngắn hạn (đầu tƣ chứng khoán ngắn hạn, cho vay ngắn hạn…); các khoản thế chấp, ký cƣợc, ký quỹ ngắn hạn; các khoản vốn trong thanh toán (các khoản phải thu, các khoản tạm ứng…) [3] Cách phân loại vốn luân chuyển này cho biết cơ cấu vốn luân chuyển theo từng quá trình, giúp cho việc đánh giá tình hình phân bổ vốn luân chuyển trong các khâu của quá trình luân chuyển vốn, để điều chỉnh phù hợp với mục tiêu quả trị của doanh nghiệp nhằm tạo ra một cơ cấu vốn luân chuyển hợp lý, đồng thời đây cũng là cơ sở để quản lý mức dự trữ hàng tồn kho. Phân loại vốn luân chuyển theo hình thái biểu hiện Theo cách phân loại này vốn luân chuyển đƣợc chia thành hai loại: - Vốn bằng tiền: bao gồm các khoản tiền mặt tại quĩ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển và các khoản công nợ phải thu. - Vốn hàng vật tƣ, hàng hóa: bao gồm vốn về vật tƣ dự trữ, sản phẩm dở dang, thành phẩm.
Cách phân loại này giúp doanh nghiệp tính toán, kiểm tra đƣợc khả năng thanh toán, mức tồn kho dự trữ của doanh nghiệp. Là cơ sở để doanh Luan van 9 nghiệp đánh giá kết cấu vốn luân chuyển, từ đó tìm ra các biện pháp phát huy chức năng của các thành phần vốn. Phân loại vốn luân chuyển theo nguồn hình thành Theo cách phân loại này vốn luân chuyển đƣợc chia thành hai loại: Nguồn vốn chủ sở hữu và vốn vay.