Chương 1: Co sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu quản lý thông tin quảng bá thực phẩm bảo vệ sức khỏe trên mạng xã hội. Chương 2: Thực trạng quản lý thông tin quảng bá thực phẩm bảo vệ sức khỏe trên mạng xã hội tại Việt Nam hiện nay. Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý thông tin quảng bá thực phâm bảo vệ sức khỏe trên mang xã hội trong thời gian tới. CO SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN NGHIÊN CỨU QUAN LÝ THÔNG TIN QUẢNG BÁ THỰC PHÁM BẢO VỆ SỨC KHỎE TRÊN MẠNG XÃ HỘI TẠI VIET NAM 1.
Hệ thống khái niệm của đề tài nghiên cứu 1. Quan lý Quan lý là một phạm trù xuất hiện trước khi có Nhà nước với tính chất là một loại lao động xã hội hay lao động chung được thực hiện trên quy mô lớn. Quản lý là sự biểu hiện khả năng của con người tô chức và điều chỉnh các hoạt động, quan hệ của mình. Như vậy, quản lý bao giờ cũng được biểu hiện là những hoạt động có ý thức của con người.
Ngoài ra, thuật ngữ quản lý thường được hiểu theo những cách khác nhau tùy theo góc độ khoa học cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu. Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và khoa học tự nhiên. Mỗi lĩnh vực khoa học có định nghĩa về quản lý đưới góc độ riêng của mình và nó phát triển ngày càng sâu rộng trong môi trường hoạt động của đời sống. Theo cuốn Từ điển Tiếng Việt, “quản lý” là “trông nom, coi giữ” hay “trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định.
Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [26, tr. Như vậy, quan ly là chức năng vốn có của một tô chức, hoạt động của các cá nhân, các bộ phận trong tô chức có sự điều khiến từ trung tâm theo những yêu cầu nhất định. Hai học giả Andrej Vizjak và Max Ringlstetter đưa ra quan điểm: “Quản lý là tiến trình mà trong đó có các hoạt động hoạch định, kết nói, hướng dan mà một (hoặc nhóm) lãnh đạo tới một (hoặc nhóm) người có cùng một mục đích là hoàn thành công việc ” [49, tr. Quan điểm trên của hai học giả có thé hiểu rang, quan lý là quá trình huy động sự đóng góp sức lực của các nhân sự trong một tô chức.
Hoạt động quản lý này hướng đến việc tìm kiếm một phương thức phù hợp để công việc mang lại hiệu quả cao nhất. Paul Hersey và Ken Blanc Heard trong cuốn “Quản lý nguồn nhân lực” khi đề cập về vai trò của quản lý trong xã hội cho rằng: “Quản lý là một quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lý với người bị quản lý, nhằm thông qua hoạt động của cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác dé đạt mục tiêu của tổ chức” [47, tr. Theo quan điểm này, quản lý là sự tác động có tô chức, có định hướng của chủ thể 16 quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, cơ hội của hệ thống dé dat được mục tiêu trong điều kiện biến động của môi trường. Tác giả Nguyễn Minh Đạo cũng đưa ra cách hiểu về khái niệm quản lý trong cuốn “Khoa học quản lý”, ông viết: “Quản ý là việc đạt tới mục đích của tổ chức một cách có kết quả và hiệu quả thông qua quá trình lập kế hoạch, tô chức, lãnh đạo và kiểm tra các nguồn lực của tổ chức ” [12, tr.
Thông qua những quan niệm của các học giả, nhà nghiên cứu cho thấy, cốt lõi của khái niệm quản lý đó là trả lời các câu hỏi: Ai quan lý? (Chủ thé quản lý); Quản lý ai? Quản lý cái gì? (Khách thê quản lý); Quản lý như thế nào? (Phương thức quản ly); Quản lý bằng cái gi? (Công cụ quản lý) và Quản lý dé làm gi? (Mục đích quan lý). Quá trình quản lý được thực hiện thông qua hai đối tượng nhất định: Chủ thé quản lý (đưa ra quyết định quản lý) và đối tượng quản lý (chịu sự tác động bởi những quyết định của chủ thê quản lý). Từ đó, trong giới hạn luận văn nghiên cứu, tác giả xin tiếp cận khái niệm quản lý như sau: “Quản lý là một quá trình tác động, gây ảnh hưởng của chủ thé quản lý lên khách thé quan lý một cách hợp quy luật nhằm sử dụng hiệu quả các nguồn lực của tô chức đề đạt được mục tiêu đặt ra trong quản lý”. Thông tin Theo Từ điển Tiếng Việt, “Thông tin là truyền tin, báo tin cho người khác biết” (động từ); “điều hoặc tin được truyền di cho biết (nói khái quát); sự truyền đạt, sự phản ánh tri thức dưới các hình thức khác nhau, cho biết về thé giới xung quanh và những quá trình xảy ra trong nó ” (danh từ) [26, tr.
Tác giả Tạ Ngoc Tan định nghĩa ngắn gọn, khái quát rằng: “Thông tin là một loại hình hoạt động dé chuyển di các nội dung thông báo và thông tin được dùng dé chỉ chất lượng nội dung của thông báo nói chung” [32, tr. 17 Theo tài liệu nghiệp vụ báo chí thế giới, thông tin xuất phát từ một từ trong triết học cổ Hy Lạp, với nghĩa “tạo ra một hình thái” (form), dùng dé chỉ những yếu tố có thé giúp cho sự hiểu biết của con người về thế giới xung quanh đang tồn tại dưới một hình thái nhất định. Trong khi đó, hai tác giả Breton Philippe giải thích rang: Từ Latin informatio, gốc của từ hiện đại “information” (thông tin), có hai hướng nghĩa. Một, nó chỉ hành động rất cụ thé là tạo ra một hình dang (forme).
Hai, tùy theo trạng huong, nó có nghĩa sự truyền đạt hoặc mộtý tưởng, khái niệm hay biểu tượng. Sự cùng chung sống của hai hướng nghĩa ay, một nhằm vào sự tao lập cụ thể, một vào sự tạo lập kiến thức và truyền đạt, có vẻ tiêu biểu cho sự phát minh của tiếng Latin [40, tr. Theo Từ điển Báo chí và Truyền thông Webster, thông tin (information) chi “kiến thức được thu thập thông qua các cách thức khác nhau; ý tưởng và dữ kiện được truyền tải thông qua các phương thức khác nhau ” hoặc bao hàm “tin tức” [55, tr. Xã hội càng phát triển, những khái niệm về thông tin ngày một phong phú, cập nhật hơn.
Trong mỗi lĩnh vực, thuật ngữ thông tin có thé được hiéu theo cách khác nhau. Cách chung nhất, thông tin là sự phản ánh sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan và các hoạt động của con người trong đời sông xã hội. Thông qua việc cảm nhận thông tin, con người làm tăng hiểu biết cho minh và tiến hành những hoạt động có ích cho cộng đồng. Có thé khang định rằng, thông tin là nền tang của báo chí, là đặc trưng của truyền thông đại chúng so với các ngành nghề khác.
Trong lý luận báo chí, có ít nhất 2 khái niệm thông tin, một là tư tưởng, văn phong do nhà báo tái tạo, sáng tạo từ hiện thực cuộc sống và hai là, sự loan báo cho công chúng biết. Ở cách hiểu thứ nhất, đó chính là đặc trưng cơ bản của báo chí, bởi đó chính là tính chất khởi đầu, khởi điểm của nguồn tin. Trong khi đó, theo cách hiểu thứ hai, đó đơn thuần chi là về phương diện sử dụng các phương tiện kỹ thuật để chuyên tải kết quả lao động sáng tạo của nhà báo ra công chúng xã hội. Và đó cũng chính là một trong những chức năng của báo chí.
Như vậy, có thê hiểu khái niệm thông tin như sau: 7hồng tin là việc chuyển tải thông báo, kiến thức đến nhiều người thông qua các phương tiện kỹ thuật, các loại 18 hình chuyển tải khác nhau nhằm tác động đến những hành vì của công chúng trong xã hội, định hướng du luận xã hội, thực hiện chức năng giám sát, quan lý dé góp phan hoàn thiện, phát triển xã hội. Cụ thé hon, trong luận văn là thông tin quảng bá về TPBVSK trên MXH hướng tới mọi đối tượng công chúng. Quảng bá Thuật ngữ “Quảng bá” được nhắc đến rất nhiều trên các phương tiện truyền thông đại chúng, trong các bài báo, các tài liệu nghiên cứu, gắn liền với các vấn đề như quảng bá hình ảnh, quảng báo thương hiệu. Song vẫn chưa có một định nghĩa cụ thể, nhất quán về quảng bá.
Quảng bá là một từ Hán Việt, theo nghĩa chiết tự “quảng” (FŠ) có nghĩa là phổ biến và “bá” (#§) có nghĩa là làm lan rộng. Có thé hiểu quảng bá có nghĩa là phô biến rộng rãi về một đối tượng bằng các phương tiện chuyền tải thông tin, nhằm thu hút sự chú ý. Theo Từ điển tiếng Việt định nghĩa về “Quang bá là việc phố biến rộng rãi bang các phương tiện thông tin” [26, tr. Quảng bá cũng được hiểu là những hoạt động nhăm tao ra hoặc thúc đây lợi ích, lợi nhuận cho một cá nhân, một sản phẩm, một tô chức.
Trong cuốn “Likeable social media — Bí quyết làm hài lòng khách hàng, tạo dựng thương hiệu thông qua Facebook và các mạng xã hội khác ”, Philip Kotler đưa ra quan điểm: “Quảng bá là một phần của giao tiếp bao gồm những thông điệp mà công ty đưa ra nhằm khuyên khích nhận thức, sự quan tâm của công chúng và mua những mặt hàng và dịch vụ đa dạng của công ty đó” [48, tr. Khi triển khai hoạt động quảng bá, các cá nhân và tổ chức thường hướng đến ba mục tiêu: (i) Tạo sự nhận thức về đối tượng được quảng bá, (ii) Tao ra sự hiểu biết về đối tượng được quảng bá, (iii) Duy trì lòng trung thành của công chúng. 19 Từ các lý giải nêu trên, tác giả khái quát khái niệm quảng bá như sau: “Quảng bá là hoạt động truyền bá rộng rãi hình anh của một cá nhân, tổ chức, một quốc gia tới một đối tượng nào đó nhằm đạt được mục đích cụ thể mà chủ thể quảng ba mong muon”. Trong giới han dé tai nghiên cứu, quảng bá là việc ứng dụng các hình thức truyền thông đa dạng nhằm phô biến rộng rãi hơn các nội dung về TPBVSK trên nền tảng MXH đến công chúng nhằm gia tăng lượng công chúng tiếp nhận.
Thực phẩm bảo vệ sức khỏe Từ vài thập ky qua TPBVSK đã phát triển nhanh chóng trên toàn thé giới. Thuật ngữ “thực phẩm bảo vệ sức khỏe” được sử dụng rất rộng rãi ở nhiều quốc gia. Nhưng cho đến nay, vẫn chưa có một khái niệm chính thức nào về TPBVSK được thống nhất sử dụng trên toàn thế giới. Gần đây các định nghĩa về TPBVSK được đưa ra nhiều hơn và có xu hướng gần thống nhất với nhau.