Chương 1: Giới thiệu quản trị sản xuất và dịch vụ 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM 1. Khái niệm về sản xuất Hiện nay theo quan niệm phổ biến trên thế giới thì sản xuất (Production) được hiểu là một quá trình (Process) tạo ra sản phẩm (Goods) hoặc dịch vụ (Services). Ở nước ta lâu nay có một số người thường cho rằng chỉ có những doanh nghiệp chế tạo sản xuất các sản phẩm vật chất có hình thái cụ thể như xi măng, TV, tủ lạnh.
mới gọi là các đơn vị sản xuất. Những đơn vị còn lại, nếu không sản xuất các sản phẩm vật chất thì đều bị xếp vào loại các đơn vị phi sản xuất. Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường, quan niệm như vậy không còn phù hợp nữa. Như vậy, về thực chất, sản xuất chính là quá trình chuyển hóa các đầu vào, biến chúng thành các đầu ra (Transforms Inputs to Outputs) dưới dạng sản phẩm hoặc dịch vụ.
Ta có thể hình dung quá trình này như trong hình 1-1. Sách này nghiên cứu những vấn đề Quản trị đối với cả hai loại doanh nghiệp sau đây: - Những doanh nghiệp tạo ra sản phẩm vật chất. - Những doanh nghiệp tạo ra các dịch vụ. - Trong một số tài liệu khác, các hoạt động quản trị quá trình tạo ra các sản phẩm vật chất được gọi là quản trị sản xuất, còn các hoạt động quản trị quá trình tạo ra các dịch vụ được gọi là quản trị điều hành hoặc quản trị tác nghiệp (Operation) và sử dụng một thuật ngữ chung cho cả hai loại nói trên là Quản trị sản xuất và tác nghiệp (Production and Operation Management Viết tắt là P/OM).
Thuật ngữ này đã quen dùng ở một số nước, nhưng ở nước ta, để cho dễ hình dung, chúng tôi sử dụng thuật ngữ Quản trị sản xuất và dịch vụ, cũng bao hàm ý nghĩa như Quản trị sản xuất và tác nghiệp. Khái niệm về Quản trị sản xuất và dịch vụ Quản trị sản xuất và dịch vụ bao gồm tất cả các hoạt động liên quan đến việc quản trị các yếu tố đầu vào, tổ chức, phối hợp các yếu tố đó nhằm chuyển hóa thành các kết quả ở đầu ra là các sản phẩm vật chất hoặc dịch vụ với hiệu quả cao nhất, đạt được các lợi ích lớn nhất. Để tạo ra sản phẩm và dịch vụ các doanh nghiệp đều phải. thực hiện ba chức năng cơ bản sau đây: - Marketing - Tiến hành sản xuất, thực hiện dịch vụ - Tài chính kế toán Theo kinh nghiệm đã được tổng kết của Mỹ thì chi phí cho khâu sản xuất, dịch vụ bao giờ cũng chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng chi phí của một doanh nghiệp.
Mặt khác các giải pháp tạo khả năng sinh lợi trong lĩnh vực Quản trị sản xuất và dịch vụ lớn hơn rất nhiều so với các biện pháp giảm phí tổn trong tài chính và tăng doanh số thông qua hoạt động tiếp thị. Do đó có thể nói rằng quản trị sản xuất và dịch vụ có tầm quan trọng đặc biệt trong hoạt động của một doanh nghiệp. Nếu quản trị tốt, ứng dụng được các phương pháp quản trị khoa học thì sẽ tạo khả năng sinh lợi lớn cho doanh nghiệp. Ngược lại nếu quản trị xấu sẽ làm cho doanh nghiệp bị thua lỗ, thậm chí có thể bị phá sản.
Như vậy trước hết ta cần phải đi sâu nghiên cứu các cơ sở khoa học, các mô hình và thuật toán nhằm giải quyết các phần sau. Doanh nghiệp xét theo quan điểm hệ thống Một doanh nghiệp dù hoạt động trong một ngành kinh tế nào cũng có tính độc lập tương đối, lập thành một hệ thống (System), có các mối quan hệ bên trong và bên ngoài cũng nh, các hệ thống thông thường khác. Thực chất doanh nghiệp là một hệ thống chuyển hóa các đầu vào thành đầu ra dưới dạng sản phẩm và dịch vụ. Vì một doanh nghiệp có ba chức năng chính là marketing, sản xuất dịch vụ và tài chính kế toán nên thường được tổ chức thành những bộ phận riêng, lập thành ba hệ thống bộ phận, có tác động qua lại với nhau, tạo thành các mối quan hệ chủ yếu bên trong của doanh nghiệp.
Các nhân tố bên ngoài có tác động đến doanh nghiệp bao gồm chủ yếu là hệ thống kinh tế quốc gia, hệ thống mậu dịch quốc tế, hệ thống chính trị quốc gia và quốc tế. - Những nhà quản trị nào thông hiểu được sự vận hành của những hệ thống bên trong và bên ngoài sẽ có cơ hội trở thành các nhà quản trị giỏi, có khả năng phối hợp những mối liên hệ giữa con người với các nguồn tiềm năng vật chất, tài chính, thông tin. để làm cho hoạt động của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao. Với quan điểm nhìn nhận doanh nghiệp như là một hệ thống sẽ giúp chúng ta có được một tầm nhìn bao quát, toàn diện về doanh nghiệp trong mối quan hệ với môi trường hoạt động.
Điều này giúp ta xây dựng được những nhiệm vụ quản trị có hiệu quả, có tính khả thi để thực hiện tốt mục tiêu chiến lược chung của doanh nghiệp. Quy trình chuyển hóa của các doanh nghiệp sẽ khác nhau tùy theo tính chất hoạt động của doanh nghiệp. Ta có thể hình dung điều này qua sơ đồ sau đây: Hệ thống chuyển hóa Đầu vào Quy trình Ngành Đầu ra 1. Xử lý, kiểm tra 1.
Dịch vụ ngân hàng 2. Hàng hóa, xe tải 2. Vận chuyển, tồn trữ 2. Phân phối hàng hóa 3.
Quy trình hóa học 3. Khai thác và chế biến 4. Sản phẩm gỗ 5. Nấu, chế biến 5.
Máy bay, phi công 5. Phòng mạch, bác sĩ 7. Khám, cho đơn, điều trị 7. Chữa bệnh, bệnh viện 7.
Người khỏe mạnh Như trên đã nói trong một doanh nghiệp thường có 3 hệ thống bộ phận chính là marketing, sản xuất dịch vụ và kế toán tài chính. Dưới các hệ thống này còn có các hệ thống phụ khác như hệ thống tồn kho, hệ thống vạch và điều hành lịch trình sản xuất, hệ thống tạo mãi, hệ thống duy trì, bảo quản năng lực doanh nghiệp. Như vậy trong nội bộ doanh nghiệp có rất nhiều mối quan hệ chằng chịt cần phải điều hòa sao cho tối ưu. Ví dụ bộ phận tài chính có thể đưa ra mục tiêu giữ mức tồn kho thấp nhất nhằm giảm vốn đầu tư cho lượng tồn kho đó.
Ngược lại đối với hệ thống tiêu thụ lại muốn duy trì một lượng tồn kho lớn để cung ứng kịp thời cho thị trường. Nếu không điều hòa được yêu cầu của các hệ thống phụ này thì hoạt động của cả hệ thống - doanh nghiệp được xem là dưới mức tối ưu. Cần xem xét, điều chỉnh yêu cầu của các hệ thống phụ để cho hoạt động chung không nằm dưới mức tối ưu. Đó cũng là một nhiệm vụ của nhà quản trị.
Nói rộng ra nhà quản trị cần xem xét các chiến lược của doanh nghiệp trên quan điểm hệ thống, lựa chọn chiến lược tốt nhất để ra quyết định thực hiện. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA LÝ THUYẾT QUẢN TRỊ SẢN XUẤT VÀ DỊCH VỤ Các lý thuyết về quản trị sản xuất và dịch vụ đã được nhiều nhà kinh tế đặt nền tảng và được bổ sung không ngừng từ năm 1776 bởi ADAM SMITH và các nhà kinh tế khác. Trong suốt thời kỳ phát triển đó có những sự kiện đáng quan tâm như sau: - Năm 1800 Eli Whitney đề xuất đầu tiên về lý luận và tiêu chuẩn hóa sản xuất và kiểm soát chất lượng.Taylor được xem là người khai sinh ra lý thuyết Quản trị lao động khoa học. Taylor đã xây dựng những tiêu chuẩn lựa chọn lao động, nghiên cứu việc hoạch định và lập lịch tiến độ lao động, nghiên cứu các nguồn động lực thúc đẩy người lao động tăng năng suất lao động, nghiên cứu hợp lý hóa các thao tác và định mức lao động.
Taylor và những người đồng nghiệp của ông như Henry L.Gantt, Frank, Lillian, Gilbreth là những người đầu tiên tìm kiếm có hệ thống những phương pháp tốt nhất để sản xuất. Một trong những đóng góp khác nữa của Taylor là việc phân biệt để chuyên môn hóa người lao động và người quản lý, chuyên môn hóa công nhân chính và công nhân phụ. Năm 1913 Henry Ford và Charles Sorento đã kết hợp những lý thuyết về sự chuyên môn hóa lao động để thực hiện phương pháp dây chuyền trong hoạt động đóng gói và phân phối thịt theo đơn hàng, từ đó khái niệm về dây chuyền sản xuất đã ra đời. Năm 1924 lý thuyết về kiểm tra chất lượng sản phẩm đã ra đời bởi Walter - Scheuhart.
Lý thuyết này được đề ra dựa vào sự kết hợp những kiến thức về toán thống kê nhằm đáp ứng nhu cầu về kiểm soát chất lượng và nó đã cung cấp những nền tảng cho việc chọn mẫu thống kê và kiểm soát chất lượng. - Năm 1938 người ta đã bắt đầu ứng dụng Computer vào quản trị sản xuất và điều hành. - Năm 1957 người ta bắt đầu ứng dụng sơ đồ PERT (Program Evaluation and Review Technique) và CPM (Critical Path Method) vào sản xuất và đã mang lại nhiều lợi ích lớn lao về tiền của cũng như thời gian. - Năm 1970 người ta bắt đầu hoạch định nhu cầu vật tư bằng máy tính (MRP).
- Năm 1975 hệ thống thiết kế bằng Computer đã được thực hiện (CAD). - Năm 1980 bắt đầu ứng dụng hệ thống sản xuất tự động (MAP). - Năm 1985 hệ thống sản xuất liên hợp bằng Computer đã được thực hiện. - Hiện nay việc điều hành sản xuất ở các nước tiên tiến đều sử dụng bằng hệ thống máy tính.
Do đó chúng ta không thể dừng lại ở trình độ quản trị sản xuất như chúng ta hiện nay. Môn quản trị sản xuất sẽ giúp các quản trị gia tiếp cận với những phương pháp quản trị mới tiên tiến. - Có thể biểu diễn những sự kiện nổi bật đánh dấu sự phát triển của khoa học quản trị sản xuất và dịch vụ như trong sơ đồ sau đây (Hình 1-3). Trong đó: MRP • Hoạch định nhu cầu vật tư (Material Requirement Planning).
MAP - Hệ thống sản xuất tự động (Implemented Manufacturing Automation Protocol). CIM - Hệ thống sản xuất liên hợp bằng computer (Computer Integrated Manufacturing). VẤN ĐỀ NĂNG SUẤT TRONG QUẢN TRỊ SẢN XUẤT VÀ DỊCH VỤ 1. Khái niệm về năng suất và ý nghĩa của năng suất Năng suất (Productivity) phản ánh sự gia tăng (sản phẩm hoặc giá trị) của quá trình sản xuất.
Năng suất được tính toán bằng cách so sánh giữa kết quả đạt được (sản phẩm, dịch vụ) với nguồn lực đã phải bỏ ra.