Chương I: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chương II: cơ sở lý luận chung về quản trị rủi ro trong xuất khẩu hàng hoá Chương III: Thực trạng quản trị rủi ro trong quy trình xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ từ tre sơn mài sang thị trường EU của Công Ty Sản Xuất Và Xuất Nhập Khẩu Hàng Thủ Công Mỹ Nghệ Phú Nghĩa Chương IV: Định hướng và giải pháp quản trị rủi ro với xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ từ tre sơn mài sang thị trường EU của Công Ty Sản Xuất Và Xuất Nhập Khẩu Hàng Thủ Công Mỹ Nghệ Phú Nghĩa. 16 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ 2. Cơ sở lý luận về xuất khẩu 2. Khái niệm xuất khẩu Định nghĩa “xuất khẩu” được hiểu theo nhiều cách khác nhau, các khái niệm về xuất khẩu biểu đạt như sau: Thứ nhất, theo Khoản 1, Điều 28, Luật Thương Mại số 36/2005/QH11 ban hành ngày 14 tháng 06 năm 2005 định nghĩa: “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.” Thứ hai, theo giáo trình Thương mại quốc tế và phát triển thị trường xuất khẩu của Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân xuất bản năm 2003 viết như sau: “Xuất khẩu hàng hóa là việc những sản phẩm hàng hóa hữu hình được sản xuất hoặc gia công tại các cơ sở sản xuất và các khu chế xuất với mục đích để tiêu thụ tại thị trường ngoài nước (xuất khẩu) đi qua hải quan.” Thứ ba, theo giáo trình International Trade của Feenstra & Taylor xuất bản năm 2010 đề cập khái niệm xuất khẩu đó là: “Các quốc gia mua và bán hàng hóa, dịch vụ từ nhau.
Xuất khẩu là sản phẩm được bản từ nước này sang nước khác.” Như vậy từ những cách định nghĩa trên về “xuất khẩu”, có thể hiểu: "Xuất khẩu là việc bán hàng hóa và dịch vụ (hữu hình hoặc vô hình) cho một quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán, với mục tiêu là lợi nhuận. Tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với một quốc gia hoặc với cả hai quốc gia. Mục đích của hoạt động này là khai thác được lợi thế của từng quốc gia trong phản công lao động quốc tế". Vai trò của xuất khẩu 2.
Đối với nền kinh tế của một quốc gia Thứ nhất, xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu, phục vụ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đối với các quốc gia đang phát triển, quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước sẽ giúp khắc phục tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, kinh tế chậm phát triển. Tuy nhiên quá trình này đòi hỏi phải có một lượng vốn lớn để nhập 17 khẩu máy móc, thiết bị, công nghệ tiên tiến. Muốn nhập khẩu thì cần phải có ngoại tệ và xuất khẩu chính là một trong những hoạt động tạo ra nguồn vốn quan trọng đó.
Vì vậy có thể nói xuất khẩu tạo tiền đề cho nhập khẩu, nó quyết định đến quy mô và tốc độ tăng trưởng của hoạt động nhập khẩu. Thứ hai, xuất khẩu thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thúc đẩy sản xuất phát triển. Xuất khẩu làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia từ nông nghiệp chuyển sang công nghiệp và dịch vụ. Thứ ba, xuất khẩu góp phần giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống nhân dân.
Xuất khẩu góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Vì vậy, thông qua xuất khẩu vấn đề việc làm được giải quyết, tạo ra thu nhập ổn định cho người dân. Mặt khác, xuất khẩu tạo ra ngoại tệ để nhập khẩu hàng tiêu dùng, đáp ứng yêu cầu ngày càng đa dạng và phong phú của nhân dân. Thứ tư, xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy sự phát triển các mối quan hệ kinh tế đối ngoại.
Xuất khẩu và các mối quan hệ kinh tế đối ngoại có tác động qua lại, phụ thuộc lẫn nhau. Hoạt động xuất khẩu là cơ sở tiền đề vững chắc để xây dựng các mối quan hệ kinh tế đối ngoại sau này, từ đó kéo theo các mối quan hệ khác phát triển như du lịch quốc tế, bảo hiểm quốc tế, tín dụng quốc tế. Ngược lại sự phát triển của các ngành này lại tác động trở lại hoạt động xuất khẩu làm cơ sở hạ tầng cho hoạt động xuất khẩu phát triển 2. Đối với doanh nghiệp Xuất khẩu là một trong những con đường giúp doanh nghiệp thực hiện kế hoạch bành trưởng, phát triển và mở rộng thị trường.
Xuất khẩu giúp các doanh nghiệp trong nước có thêm nhiều cơ hội để tiêu thụ sản phẩm với khối lượng lớn và với các chủng loại hàng hóa phong phú đa dạng Thông qua xuất khẩu, doanh nghiệp có thể đa dạng hóa thị trường đầu ra của mình. Đa dạng hóa thị trường giúp doanh nghiệp tạo ra các nguồn thu nhập nhằm ổn định luồng tiền thanh toán cho các nhà cung cấp. Đồng thời tiếp tục đa dạng hóa thị trường để tránh sự phụ thuộc vào một thị trường nào đó. Nguồn ngoại tệ do xuất khẩu mang lại giúp doanh nghiệp tăng dự trữ, có thêm nguồn tài chính mạnh để tái đầu tư vào quá trình sản xuất cả về chiều rộng cũng như chiều sâu, 18 nâng cao khả năng nhập khẩu, thay thế, bổ sung, nâng cấp máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu.
phục vụ cho quá trình phát triển. Doanh nghiệp có thể mang lại lợi ích cho xã hội nhiều hơn thông qua sản xuất hàng xuất khẩu thu hút nhiều lao động tạo thu nhập ổn định, đồng thời tạo ra thu nhập để nhập khẩu vật tư, tư liệu sản xuất, vật phẩm tiêu dùng phục vụ cho sản xuất cũng như đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân. Xuất khẩu tất yếu dẫn đến cạnh tranh giữa các doanh nghiệp xuất khẩu trong và ngoài nước. Đây là một trong những nguyên nhân buộc các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu phải nâng cao chất lượng hàng hoá xuất khẩu, chú ý hơn nữa trong việc hạ giá thành của sản phẩm, từ đó tiết kiệm các yếu tố đầu vào, hay nói cách khác tiết kiệm các nguồn lực.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng phải luôn luôn sẵn sàng đổi mới và hoàn thiện cơ cấu sản xuất kinh doanh đệ phù hợp với thị trường và theo kịp sự phát triển chung của thế giới 2. Các hình thức xuất khẩu Xuất khẩu trực tiếp: là một hình thức xuất khẩu mà trong đó các nhà sản xuất, các công ty xí nghiệp và các nhà xuất khẩu, trực tiếp ký kết hợp đồng mua bán trao đổi hàng hóa với các đối tác nước ngoài. Xuất khẩu gián tiếp (uỷ thác): là hình thức kinh doanh trong đó đơn vị xuất nhập khẩu đóng vai trò là người trung gian thay cho đơn vị sản xuất, tiến hành ký kết hợp đồng xuất khẩu, tiến hành làm các thủ tục cần thiết để xuất khẩu cho nhà sản xuất và qua đó nhận được một số tiền nhất định gọi là phí ủy thác. Buôn bán đối lưu: là phương thức giao dịch trao đổi hàng hóa người bán đồng thời chính là người mua lượng hàng người bản trao đi có giá trị tương đương với lượng hàng nhập về.
Bản chất của buôn bán đối lưu là hoạt động xuất khẩu gắn liền với nhập khẩu. Gia công trong thương mại là hoạt động thương mại theo đó bên nhận gia công sử dụng một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu vật liệu của bên đặt gia công để thực hiện một hay nhiều công đoạn trong quá trình sản xuất theo yêu cầu của bên đặt gia công để hưởng thủ lao. Gia công quốc tế là hình thức gia công thương mại mà bên đặt gia công hoặc bên nhận gia công là thương nhân nước ngoài. 19 Xuất khẩu tại chỗ là hình thức xuất khẩu mà hàng hóa không qua biên giới quốc gia mà thường là xuất khẩu vào khu vực công nghiệp dành riêng cho các công ty kinh doanh người nước ngoài Tái xuất khẩu hay còn được gọi là “tạm nhập tái xuất” là hình thức xuất khẩu mà doanh nghiệp của một quốc gia mua hàng của một quốc gia này để bản cho quốc gia khác, có làm thủ tục nhập khẩu hàng hóa tại chính quốc gia đó và làm thủ tục xuất khẩu chính hàng hóa đỏ ra khỏi nước mình.
Hoạt động tái xuất bao gồm sự tham gia của 3 quốc gia khác nhau với mỗi vai trò khác nhau trong đó: nước nhập khẩu, nước xuất khẩu và nước tái xuất. Xuất khẩu theo nghị định thư: Thường diễn ra giữa các quốc gia có mối quan hệ mật thiết. Chính phủ hai bên sẽ tiến hành ký kết nghị định (thường là để gán nợ). Các doanh nghiệp trong nước sẽ dựa vào văn bản ký kết với các chỉ định và hướng dẫn cụ thể để thực hiện xuất khẩu hàng hóa 2.
Khái quát về quản trị rủi ro trong tác nghiệp xuất khẩu hàng hoá 2. Khái niệm về rủi ro “Rủi ro là những sự kiện bất lợi, bất ngờ đã xảy ra gây tổn thất cho con người” (Nguyễn Anh Tuấn, 2006, Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngoại thương, trang 16, NXB Lao động - Xã hội) Mặc dù rủi ro là sự kiện khách quan, xảy ra bất ngờ ngoài mong muốn của con người, nhưng con người hoàn toàn có thể kiểm soát được rủi ro ở những mức độ khác nhau, từ đó có những biện pháp hạn chế tối đa những tổn thất mà rủi ro gây nên. Một sự kiện được coi là rủi ro khi thoả mãn đồng thời ba điều kiện sau: Rủi ro là sự kiện bất ngờ đã xảy ra. Bất ngờ là con người không thể lường trước được, nó có thể xuất hiện ở một thời điểm bất kì trong tương lai và ở bất cứ đâu.
Mọi rủi ro đều là bất ngờ và sự kiện bất ngờ đó đã phải xảy ra thì mới được coi là rủi ro. Rủi ro là những sự cố gây ra tổn thất. Mọi rủi ro xảy ra đều dẫn đến tổn thất; tuy nhiên, tổn thất đó có thể không đáng kể hoặc tổn thất gián tiếp. 20 Rủi ro là sự kiện ngoài mong đợi.
Rủi ro gây ra tổn thất, là sự cố bất ngờ nằm ngoài mong đợi của con người, do đó, nó thể hiện tính khó lường trước, tính khách quan và loại bỏ ý chủ quan của các chủ thể tham gia hoạt động. Việc nghiên cứu rủi ro thực chất nhằm đạt được mục đích cuối cùng là hạn chế những thiệt hại, tổn thất cho các đối tượng liên quan.