MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Có thể nói đặc điểm của ngành ngân hàng là cung cấp các sản phẩm tài chính cho khách hàng. Trƣớc sự gia tăng ngày càng nhiều của các ngân hàng thƣơng mại trong nền kinh tế hiện nay tạo nên sự cạnh tranh gay gắt của các ngân hàng nhằm tìm kiếm, phát triển các khách hàng của ngân hàng. Mọi ngân hàng thƣơng mại đều ý thức đƣợc sự tồn tại và phát triển của họ phụ thuộc vào việc giành đƣợc khách hàng không; có thoả mãn đƣợc KH không; và có duy trì đƣợc lòng trung thành của họ không? Do đó, khách hàng luôn là yếu tố quan trọng đối với các ngân hàng, có đƣợc khách hàng đã khó, nhƣng giữ chân khách hàng còn khó khăn hơn.
Để giải quyết vấn đề này, ngân hàng cần phải có một hệ thống quản trị quan hệ khách hàng (CRM) hoàn thiện và phù hợp với đặc điểm của riêng mình, từ đó có thể thiết lập, duy trì, mở rộng mối quan hệ với khách hàng của mình, tạo đà cho sự mở rộng và phát triển một cách bền vững. Cùng với sự phát triển chung của ngành ngân hàng, Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Đông Á Đà Nẵng (DongAbank Đà Nẵng) đã có những bƣớc chuyển mình mạnh mẽ, hƣớng đến hình ảnh một ngân hàng hiện đại, năng động, góp phần vào sự phát triển chung của thành phố Đà Nẵng. Với quan điểm “Khách hàng là nguồn sống của ngân hàng”, DongAbank Đà Nẵng đã rất chú trọng đến việc tạo dựng mối quan hệ bền vững với các khách hàng và đang từng bƣớc hoàn thiện dịch vụ chăm sóc khách hàng nhằm mục đích thu hút và giữ chân khách hàng về phía mình. Tuy vậy, quá trình thực hiện còn có một số hạn chế nên chƣa khai thác hết hiệu quả tiềm năng của khách hàng.
Nhận thức đƣợc vấn đề này, tôi quyết định chọn đề tài: “ Quản trị quan hệ khách hàng tại ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á chi nhánh Đà Nẵng” làm đề tài nghiên cứu. Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá thực trạng quản trị quan hệ khách hàng tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần (NH TMCP) Đông Á chi nhánh Đà Nẵng để đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực phục vụ khách hàng, duy trì lòng trung thành của khách hàng, góp phần nâng cao vị thế và uy tín của chi nhánh Đà Nẵng trên thị trƣờng trong việc cạnh tranh với các ngân hàng trên cùng địa bàn. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Đối tƣợng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận về quản trị quan hệ khách hàng và các biểu hiện của nó tại NH TMCP Đông Á chi nhánh Đà Nẵng. - Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu vào hệ thống Quản trị quan hệ khách hàng tại Chi nhánh Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á Đà Nẵng 4.
Phƣơng pháp nghiên cứu + Phƣơng pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết. + Phƣơng pháp quy nạp để nghiên cứu vấn đề lý luận và trình bày quan điểm về các vấn đề có liên quan. + Phƣơng pháp thống kê và phân tích để nghiên cứu vấn đề thực tiễn. + Phƣơng pháp tổng hợp để đƣa ra đề xuất theo mục tiêu đã định hƣớng.
Cấu trúc của luận văn Kết cấu của đề tài gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản trị quan hệ khách hàng. Chƣơng 2: Thực trạng quản trị quan hệ khách hàng tại Ngân hàng TMCP Đông Á chi nhánh Đà Nẵng Chƣơng 3: Hoàn thiện quản trị quan hệ khách hàng tại Ngân hàng TMCP Đông Á chi nhánh Đà Nẵng Luan van 3 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Để nội dung luận văn đƣợc hoàn thiện và bám sát với đề tài, tác giả đã thu thập các tài liệu phục vụ cho công tác nghiên cứu của mình dựa trên các tài liệu lý thuyết về marketing và quản trị quan hệ khách hàng, bài nghiên cứu về quản trị quan hệ khách hàng của một số tác giả trƣớc đây; cũng nhƣ những bài báo, website nói về quản trị quan hệ khách hàng. Sau đây là nội dung tham khảo một số tài liệu: - Phần lớn các nhà nghiên cứu cho rằng CRM vận hành cùng với hoạt động marketing và tiêu thụ và CRM cũng cần có các hoạt động dịch vụ và hỗ trợ để duy trì mối quan hệ tốt với khách hàng (LiBrizzi, 2001; Coner & Gungor, 2002; Anderson, 2002; Seddon, 2000; Bitner và các cộng sự, 2002; Chen & Popovich, 2003; Ang & Buttle, 2006; Helgesen, 2007).
Mối quan hệ giữa CRM, công nghệ thông tin, hệ thống thông tin và khai thác dữ liệu, sự phát triển của phần mềm, công cụ và hệ thống internet, thƣơng mại điện tử và quản trị điện tử là những chủ đề có nhiều các nhà khoa học tranh luận mạnh mẽ (Ferguson, 2000; Drew và các cộng sự, 2001; Corner & Hinton, 2002, Shebab và các cộng sự, 2004; Bih-Ru, 2007; Ngai và các cộng sự, 2012). - Ebook về Quản trị quan hệ khách hàng (Customer relationships management) của Kristin Anderson and Carol Kerr đã nêu rõ về các khái niệm cơ bản của CRM cũng nhƣ tiến trình và cách thức thực hiện những tiến trình đó. CRM là một chiến lƣợc quan trọng trong hoạt động quản lý DN trong kỷ nguyên thông tin và tri thức. Mục tiêu của CRM là tối đa hoá giá trị của khách hàng thông qua việc xây dựng, phát triển và duy trì một tổ chức luôn định hƣớng vào khách hàng và thoả mãn khách hàng.
Hệ thống CRM đòi hỏi tổ chức hay DN phải nghiên cứu, tìm hiểu, thống kê để xác định nhu cầu của khách hàng trong hiện tại và tƣơng lai. CRM sử dụng nguồn lực của DN thông qua quy trình, thủ tục đƣợc quy định nhằm thu thập thông tin của khách Luan van 4 hàng trong quá trình thống kê, phân tích, đánh giá và rút ra những nhận định cần thiết. Việc ứng dụng CRM không chỉ đáp ứng cho việc giải quyết việc quản trị quan hệ khách hàng của các DN đối với khách hàng nội địa mà CRM còn là một trong những công cụ quan trọng trong việc quản trị mối quan hệ với những khách hàng ngoài nƣớc. Đây cũng là một trong những lợi ích quan trọng của CRM.
Đồng thời, tác giả cũng đề cập đến việc ứng dụng Internet vào CRM để có thể thu thập, lƣu trữ nhiều thông thông hơn từ nhiều khách hàng, là một trong những công cụ đƣợc nhiều ngƣời sử dụng hiện nay vì tình nhanh chóng và tiện lợi. Tuy nhiên, tính bảo mật và độ an toàn của Internet ngày nay là chƣa cao. Các thông tin lƣu trữ về khách hàng có thể bị xóa hoặc đánh cắp. - Quản lý Marketing trong thế kỉ 21 đã mang đến cho ngƣời đọc cách thức tiếp cận mới về Marketing hiện đại.
Tài liệu đã nhấn mạnh mục tiêu hoạt động chính của DN là thu hút và giữ đƣợc khách hàng, bằng cách đó sẽ tạo ra đƣợc lợi nhuận kinh tế, tăng trƣởng cho DN; phân loại và tìm hiểu những nhu cầu, đặc điểm, hành vi của từng nhóm khách hàng để DN có thể đƣa ra những chính sách tác động đến từng nhóm khách hàng của mình. - Bài báo về “CRM – Có thể bạn chƣa biết”, nguồn Saga. Bài báo đã nói về CRM chính là một nghệ thuật – nghệ thuật trong việc quản trị quan hệ khách hàng. CRM đƣợc thể hiện qua hai khía cạnh: thứ nhất là nhận thức trong nội bộ DN, thứ hai là hành động bên ngoài.
Ở khía cạnh thứ nhất, CRM đƣợc hiểu là một chiến lƣợc tiếp cận nhằm đảm bảo rằng mỗi DN phải ý thức đƣợc một cách sâu sắc tầm quan trọng của khách hàng. Phƣơng châm “Có nhiều khách hàng càng tốt” cần phải đƣợc quán triệt để thay thế cho “Bán nhiều hàng càng tốt”. Chính vì vậy, mỗi nhân viên ở bất kỳ bộ phận nào của DN, trực tiếp (marketing, sales…) hay gián tiếp liên quan đến khách hàng (kế toán, vận hành…) đều phải luôn nhận thức rằng mình đang tham gia vào Luan van 5 CRM. Khía cạnh thứ hai là những hoạt động hƣớng ra bên ngoài, hƣớng đến khách hàng.
Việc duy trì mối quan hệ chặt chẽ, gắn bó với khách hàng qua tất cả các kênh giao dịch đều là điều hết sức quan trọng nhƣng không hề dễ dàng. - Bài báo “Kiến trúc CRM thành công”, Nguyễn Văn Hiếu - Giám đốc DN CP phần mềm BSC giúp ngƣời đọc hình dung tổng thể hơn về bức tranh CRM, từ vấn đề nhận thức, xây dựng kiến trúc, chiến lƣợc, tầm nhìn, tới những phƣơng pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác hệ thống CRM. Theo tác giả, để đạt đƣợc giá trị lâu dài của giải pháp CRM, yêu cầu kiến trúc chiến lƣợc phải gồm toàn bộ các hoạt động kinh doanh, dịch vụ liên quan đến khách hàng của DN và trên mức độ toàn DN. Tại Việt Nam, chỉ một số ít DN mới áp dụng CRM cỡ DN, còn lại hầu hết áp dụng mức phòng ban hoặc kết hợp CRM vào một hay nhiều dự án khác.
Việc thực hiện CRM ở mức độ DN cũng không dễ, bởi nó yêu cầu tầm nhìn cỡ hội đồng quản trị và ban lãnh đạo để định hƣớng điều khiển "việc tập trung không ngừng vào khách hàng" trên toàn bộ DN. Qua khảo sát hơn 120 DN Việt Nam đã áp dụng giải pháp CRM trong năm 2007 -2011 từ DN BSC cho thấy, tỷ lệ các DN Việt Nam xây dựng đƣợc "tầm nhìn CRM" đúng chỉ đạt khoảng 20%. Còn phần lớn chỉ đặt CRM trong một vài phòng ban quan trọng liên quan đến khách hàng (nhƣ phòng kinh doanh, phòng dịch vụ khách hàng). Nguyên nhân do việc cổ động, truyền bá, giám sát thực hiện tầm nhìn CRM đến từng phòng ban, nhân viên làm chƣa tốt, dẫn tới nhận thức và sự cộng tác của từng nhân viên, lãnh đạo cấp trung thấp, ảnh hƣởng tới việc thực thi CRM.
Để xây dựng đƣợc "tầm nhìn CRM" đúng các DN nên xác định về vị trí, định hƣớng của DN; những thông tin về khách hàng; việc áp dụng CRM nhƣ thế nào cho hợp lý với tình hình của DN. Bài báo “Đánh giá mô hình CRM”, PC Word Việt Nam cho rằng việc xây dựng, vận hành hệ thống CRM ở mỗi DN thƣờng khác nhau. Do vậy, vấn Luan van 6 đề đầu tiên trong triển khai hệ thống CRM là phải đánh giá đƣợc mô hình CRM nào thích hợp nhất với đơn vị mình. Vì mỗi DN có tiêu chí hoạt động, mục tiêu kinh doanh và đặc thù khác nhau.
Tuy nhiên, xét trên bình diện khảo sát chung, ngƣời ta có thể tham khảo mô hình mà số đông các DN lựa chọn, từ đó tham chiếu mức độ phù hợp đối với DN. Bài báo đã chỉ ra đƣợc một tiến trình CRM cơ bản.