phần mở đầu, công ty Yang Ming Shipping là một trong những công ty chuyên cung cấp các dịch vụ logistics toàn cầu dựa vào vận tải hàng hải quốc tế. Hiện tại, ở công ty Yang Ming Shipping CN Đà Nẵng cũng đang triển khai việc thực hiện CRM tại công ty. Tuy nhiên, do việc thực hiện CRM còn chƣa xác định đƣợc rõ các điều kiện cần thiết để triển khai CRM, đồng thời các bƣớc thực hiện quản trị quan hệ khách hàng còn chung chung, khiến việc thực hiện CRM ở công ty chƣa hiệu quả. Do đó, từ việc hệ thống hóa lý thuyết về quản trị CRM, đồng thời tham khảo các công trình nghiên cứu đi trƣớc về đề tài quản trị quan hệ khách hàng, tác giả mong đợi sẽ giúp cho việc quản trị quan hệ khách hàng tại công ty Yang Ming Shipping ngày càng hoàn thiện và hiệu quả hơn.
6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ QUAN HỆ KHÁCH HÀNG 1. KHÁCH HÀNG 1. Khái niệm Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, “Khách hàng là người giao dịch mua bán hàng hóa hay dịch vụ với các cơ sở sản xuất, dịch vụ, các cửa hàng thương nghiệp, các công ty, tổng công ty…” Theo Philip Kotler: “Khách hàng là đối tượng mà doanh nghiệp phục vụ và là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp”. Ở mỗi khía cạnh nghiên cứu khác nhau, phạm vi nghiên cứu khác nhau thì có những quan điểm khác nhau về khách hàng.
Nhƣng theo nghĩa rộng, có thể khái quát định nghĩa khách hàng nhƣ sau: Khách hàng có thể là bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào tham gia vào hoạt động mua hoặc có sự quan tâm, theo dõi một loại hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó mà sự quan tâm này có thể dẫn đến hành động mua. Phân loại khách hàng Có nhiều cách để phân loại khách hàng, tùy theo tính chất mà mỗi công ty sẽ có cách phân loại khách hàng khác nhau. Phân loại theo hành vi mua hàng Căn cứ vào hành vi mua hàng có thể phân chia khách hàng thành hai loại: - Khách hàng tổ chức: quyết định mua phức tạp vì chịu ảnh hƣởng bởi nhiều ngƣời trong tổ chức do cần cân nhắc về mặt kỹ thuật, thƣơng mại - Khách hàng cá nhân: Quyết định mua ít phức tạp hơn do việc mua sắm thƣờng ít chịu tác động bởi các yếu tố bên ngoài, thƣờng chỉ chịu tác động của các yếu tố văn hóa xã hội, tâm lý, thói quen. Phân loại khách hàng theo phạm vi - Khách hàng bên ngoài: là những cá nhân, doanh nghiệp, các tổ chức, đoàn thể bên ngoài tổ chức mua sắm hàng hóa, dịch vụ do tổ chức cung cấp.
- Khách hàng nội bộ: Là định nghĩa về đội ngũ nhân viên ngoài bộ phận của bạn, bên trong tổ chức của bạn, công việc phụ thuộc vào bộ phận của bạn. Khách hàng nội bộ cũng có nhu cầu và mong muốn mà doanh nghiệp cần thỏa mãn. Phân loại khách hàng theo mức độ so sánh (Philip Kotler) Theo Philip Kotler, một công ty nên chia khách hàng thành các nhóm nhƣ sau: - Nhóm KH đem lại lợi nhuận cao nhất: Là nhóm khách hàng cần nhận đƣợc sự chú ý ở thời điểm hiện tại. - Nhóm KH có khả năng tăng trƣởng cao nhất: Là những khách hàng cần nhận đƣợc sự quan tâm lâu dài nhất.
- Nhóm KH dễ bị tổn thƣơng nhất: Là những khách hàng cần sự can thiệp từ rất sớm nhằm hạn chế sự suy giảm. - Nhóm khách hàng phiền hà nhất: Là những khách hàng không mang lại lợi nhuận hoặc lợi nhuận mà họ mang lại không đủ bù đắp chi phí cho những phiền hà mà họ gây ra. Tầm quan trọng của khách hàng Khách hàng chính là nhân tố quyết định sự sống còn của doanh nghiệp. Doanh nghiệp chỉ có thể tồn tại đƣợc khi duy trì đƣợc niềm tin của khách hàng.
Doanh nghiệp tồn tại là nhờ vào việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ trên thị trƣờng và họ không có cách nào khác ngoài việc cạnh tranh để giành lấy khách hàng, sự sống còn của doanh nghiệp phụ thuộc vào khách hàng. Tùy vào thị hiếu của khách hàng mà doanh nghiệp sẽ điều chỉnh về mẫu mã, chất lƣợng cho phù hợp với khả năng của mình và đáp ứng nhu cầu thị trƣờng. 8 Khách hàng chính là nguồn lợi nhuận mà doanh nghiệp hƣớng đến, là tài sản quý giá của doanh nghiệp. Do đó, doanh nghiệp cần phải tìm hiểu nhu cầu và đáp ứng các nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất.
QUẢN TRỊ QUAN HỆ KHÁCH HÀNG (CRM) 1. Khái niệm CRM là chữ viết tắt của cụm từ Customer Relationship Management – Quản trị quan hệ khách hàng, thuật ngữ CRM xuất hiện từ những năm 1990 trong giới học thuật và các công ty tƣ vấn của Mỹ. Quản trị doanh nghiệp theo hƣớng thỏa mãn nhu cầu khách hàng sẽ đặt ra yêu cầu doanh nghiệp cần thay đổi và phát triển tổ chức, sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ theo những yêu cầu đa dạng của khách hàng, không chỉ dựa trên nhu cầu và khả năng hiện có của doanh nghiệp. Do đó, quản trị quan hệ khách hàng là quản trị theo hƣớng xây dựng và phát triển mối quan hệ chặt chẽ, lâu dài giữa khách hàng và doanh nghiệp.
CRM có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau bởi nó đƣợc ứng dụng vào nhiều cấp độ khác nhau của khách hàng nhƣ là nhà phân phối, nhà bán buôn, đối tác, ngƣời tiêu dùng. Theo nhƣ Gartner (2013), “CRM là một chiến lƣợc kinh doanh toàn diện đƣợc thiết kế để tối ƣu hóa lợi nhuận, tăng doanh thu và nâng cao sự hài lòng của khách hàng bằng cách: tổ chức hoạt động doanh nghiệp xoay quanh phân khúc khách hàng, nuôi dƣỡng và thỏa mãn hành vi khách hàng, thực thi các quá trình tập trung vào khách hàng” Theo quan điểm của Trần Minh Đạo (2012), “Quản trị quan hệ khách hàng là một quá trình bao gồm tổng thể các hoạt động liên quan đến việc xây dựng và duy trì các mối quan hệ với những khách hàng có thể mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp bằng cách cung cấp cho họ các giá trị và sự thỏa mãn tốt hơn”. Quản trị quan hệ khách hàng vừa phải nhằm vào các khách hàng 9 lớn, vừa phải xây dựng lòng trung thành của khách hàng để họ có thể mang lại lợi nhuận cho công ty trong dài hạn. Hiện nay, CRM mang một nghĩa rộng hơn.
“CRM là một tiến trình tổng quát của việc xây dựng và duy trì các mối quan hệ khách hàng có lãi bằng việc cung cấp các giá trị và sự thõa mãn cao hơn cho khách hàng”. Đặc điểm của Quản trị quan hệ khách hàng CRM CRM là một chiến lƣợc kinh doanh cốt lõi kết hợp các quá trình và chức năng bên trong với mạng lƣới bên ngoài để tạo ra và phân phối giá trị tới khách hàng mục tiêu nhằm đạt đƣợc lợi nhuận. Nó đƣợc đặt trên nền tảng dữ liệu liên quan đến khách hàng có giá trị cao và đƣợc hỗ trợ bởi công nghệ thông tin. CRM là một hệ thống quản trị, trong đó khách hàng là trung tâm của mọi hoạt động và mọi quá trình mà doanh nghiệp (DN) thực hiện.
CRM sử dụng công nghệ hiện đại, kế hoạch hóa các chiến lƣợc tích hợp, các kỹ thuật marketing và các công cụ phát triển tổ chức để xây dựng các mối quan hệ bên trong và bên ngoài, nhằm tăng doanh thu, lợi nhuận cũng nhƣ hiệu quả hoạt động của DN. CRM liên quan đến việc đối xử những khách hàng khác nhau một cách khác nhau. Bản chất của CRM là mối quan hệ 1-1 (một khách hàng với một doanh nghiệp – đầu vào của khách hàng cho tới đầu ra của doanh nghiệp đối với khách hàng cụ thể). Một công ty theo đuổi CRM sẽ tƣơng tác trực tiếp với từng khách hàng cá nhân.
Khách hàng cho công ty biết cách mình muốn đƣợc đối đãi. Dựa trên sự tƣơng tác này, công ty sẽ điều chỉnh hành vi của mình đối với khách hàng đó. CRM cho phép nhận dạng, thu hút và làm khách hàng trung thành với doanh nghiệp hơn, nhằm đạt doanh số và lợi nhuận cao hơn. CRM tạo dựng 10 những mối quan hệ lâu dài, có ý nghĩa, mang tính cá nhân với khách hàng - những ngƣời sẽ mang lại thu nhập cho doanh nghiệp trong tƣơng lai.
Vai trò của Quản trị quan hệ khách hàng CRM Khi triển khai tốt CRM sẽ mang lại những lợi ích to lớn cho hiệu quả kinh doanh của các DN, đặc biệt khi việc quản lý các mối quan hệ với khách hàng ngày càng trở nên cần thiết nhƣ hiện nay. CRM đƣợc coi là công cụ hữu ích trong việc phát triển quan hệ giữa DN với khách hàng thông qua việc nghiên cứu, tìm hiểu kỹ lƣỡng nhu cầu và thói quen của họ nhƣ sau: Thứ nhất, CRM giúp các khách hàng có thể dễ dàng trao đổi thông tin với DN bằng nhiều hình thức khác nhau. Những thông tin mà DN thu nhận đƣợc sẽ đƣợc tập trung vào cơ sở dữ liệu mà hệ thống CRM tạo ra. Thông tin của khách hàng sẽ đƣợc cập nhật và đƣợc lƣu trữ trong hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu.
Nhờ một công cụ dò tìm dữ liệu đặc biệt, doanh nghiệp có thể phân tích, hình thành danh sách khách hàng tiềm năng và lâu năm để đề ra những chiến lƣợc chăm sóc khách hàng hợp lý. Thứ hai, CRM có khả năng tìm kiếm, thu hút khách hàng mới, duy trì những đối tác đã có, lôi kéo khách hàng cũ trở lại, qua đó giúp DN gia tăng lợi nhuận, giảm chi phí và thời gian trong khâu marketing, tiếp thị và mở rộng dịch vụ khách hàng. Việc triển khai CRM giúp doanh nghiệp quản lý khách hàng, lắng nghe ý kiến khách hàng, dễ dàng quản lý tình hình kinh doanh và phát triển của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và dự đoán tƣơng lai; giúp doanh nghiệp quảng bá sản phẩm, thƣơng hiệu nhanh chóng dễ dàng và tiết kiệm chi phí. Bên cạnh đó, CRM cung cấp cho nhà quản lý nhiều công cụ hỗ trợ đắt lực nhƣ: cung cấp cho ban lãnh đạo một cơ sở dữ liệu về khách hàng, giúp thống kê, phân tích và đánh giá tình hình kinh doanh nhanh nhất; giúp doanh nghiệp so sánh tình hình kinh doanh từ quá khứ, hiện tại và dự đoán tƣơng lai.
11 Doanh nghiệp dễ dàng phát hiện những khó khăn, những rủi ro tiềm ẩn để kịp thời đƣa ra các giải pháp thích hợp. CRM cũng giúp doanh nghiệp đánh giá tình hình kinh doanh và hiệu quả công việc của từng nhân viên. Thứ ba, CRM còn tạo một môi trƣờng làm việc lý tƣởng cho các nhân viên kinh doanh.