phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, mục lục, danh mục các bảng biểu, hình vẽ, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản trị quan hệ khách hàng. Chƣơng 2: Thực trạng về công tác quản trị quan hệ khách hàng tại Công ty CP Vận tải Đa Phƣơng Thức. Chƣơng 3: Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng quản trị quan hệ khách hàng tại Công ty CP Vận tải Đa Phƣơng Thức. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Vấn đề quản trị quan hệ khách hàng là mảng đề tài đƣợc sự quan tâm của rất nhiều nghiên cứu.
Jill Dyche (2001), The CRM Handbook, USA. Thông qua cuốn sách này tác giả đã nhận thức đƣợc: + Vai trò đa dạng của CRM trong kinh doanh và vì sao CRM lại quan trọng. + Phạm vi ứng dụng và sử dụng của CRM, từ quy trình tự động hóa, nguồn lực bán hàng, công tác quản lý chiến dịch, cho đến CRM điện tử và nhiều hoạt động khác. + Vì sao tỷ lệ thất bại trong quản lý mối quan hệ khách hàng lại quá cao và cách phòng tránh.
Theo Kristin và Carol (2002): “Quản trị quan hệ khách hàng là một chiến lƣợc và một quá trình toàn diện nhằm đạt đƣợc, duy trì và cộng tác với 4 các khách hàng đƣợc lựa chọn nhằm tạo ra giá trị hiệu quả hơn cho công ty và khách hàng. Nó bao gồm sự kết hợp giữa marketing, bán hàng và dịch vụ khách hàng để đạt đƣợc những hiệu quả và hiệu suất cao trong việc phân phối giá trị khách hàng”. Theo Philip Kotler (2003): “CRM sử dụng công nghệ thông tin để thu thập dữ liệu, sau đó đƣợc sử dụng để phát triển nhằm tạo ra sự giao tiếp có tính cá nhân hơn với khách hàng. Trong dài hạn dữ liệu cung cấp một cách thức phân tích và điều chỉnh liên tục nhằm để tăng giá trị cho khách hàng lâu dài với doanh nghiệp”.
Theo Don Peppers và Martha Rogers (2004), tác giả của công trình nghiên cứu mô hình CRM theo triết lý marketing 1:1. Nền tảng triết lý này là “Phục vụ mỗi khách hàng theo một cách riêng biệt”. Triết lý này gồm 4 bƣớc cơ bản: nhận diện (Indentify) thông qua tất cả các thông tin của quá trình tiếp xúc; phân biệt (Differentiate) thông qua nhu cầu của khách hàng và giá trị cá nhân của khách hàng mang lại cho doanh nghiệp; tƣơng tác (Interact) bằng phƣơng thức đối thoại 2 chiều; và cá biệt hóa (Customize) dựa trên những sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp.S Nguyễn Văn Dung (2006), giáo trình “Quản lý quan hệ khách hàng”, NXB Giao Thông Vận Tải đƣa ra quan điểm quản lý quan hệ khách hàng không chỉ là một hệ thống hay một công nghệ mà còn là một cách sống. Ngày nay, khi internet phát triển, quản lý quan hệ khách hàng vẫn duy trì đƣợc cách liên lạc theo cách cổ điển cho dù ngƣời mua – ngƣời bán chƣa từng bắt tay với nhau.
Quản lý quan hệ khách hàng ngày nay sử dụng các hệ thống công nghệ thông tin để nắm bắt và theo dõi các nhu cầu của khách hàng. Và quản lý hệ thống ngày nay là sự thống nhất tƣ duy đó trong tất cả các bộ phận của tổ chức để mọi ngƣời đều hiểu rõ các khách hàng nhƣ thấu hiểu về quản lý quan hệ khách hàng. Chọn lựa và thực hiện chiến lƣợc quản lý quan hệ 5 khách hàng, tận dụng sức mạnh tiềm ẩn của quản lý quan hệ khách hàng để giảm thiểu mâu thuẫn với khách hàng và duy trì mối quan hệ trong những trƣờng hợp có mâu thuẫn phát sinh. Trƣơng Hùng (2007), Giá trị về sự hài lòng khách hàng trƣớc khi mua, trong khi mua và sau khi mua, tác giả đƣa ra nhiều vấn đề nhƣ phân tích hành vi khách hàng, sách lƣợc làm hài lòng khách hàng xuất phát từ góc độ ngƣời tiêu dùng, giá trị khách hàng, giá trị doanh nghiệp,… giúp doanh nghiệp nắm bắt phƣơng hƣớng kinh doanh, định sách lƣợc làm hài lòng khách hàng trƣớc khi mua, trong khi mua, khi sử dụng và sau khi sử dụng để kinh doanh một cách có hiệu quả.
Nguyễn Xuân Lãn (2009), giảng viên khoa Quản trị kinh doanh trƣờng Đại Học Kinh Tế-Đại học Đà Nẵng, đã có bài nghiên cứu khoa học về quản trị quan hệ khách hàng trong hoạt động marketing của các doanh nghiệp từ lý thuyết đến thực tiễn. Qua nghiên cứu tác giả đã cho thấy đƣợc khả năng thành công của việc ứng dụng CRM phụ thuộc rất lớn vào sự cam kết và hỗ trợ của quản trị cấp cao. Khi tổ chức đã phát triển khá tốt hệ thống hạ tầng CRM hoặc đã vận hành hệ thống phần mềm thì thiếu sự hỗ trợ của cấp cao là một trở ngại lớn cho sự thành công của CRM. Một số doanh nghiệp xem hoạt động CRM là trách nhiệm của bộ phận marketing hay chăm sóc khách hàng đã hoạt động không đạt đƣợc hiệu quả ứng dụng do các bộ này không đủ thẩm quyền trong việc phối hợp giải quyết toàn bộ vấn đề phát sinh từ mối quan hệ với khách hàng.
Cũng trong nghiên cứu này, tác giả chỉ ra đƣợc ảnh hƣởng của sự sẵn sàng của tổ chức (về tài chính và kỹ thuật) và các yếu tố hạ tầng CRM (dịch vụ và hỗ trợ khách hàng, tự động hóa lực lƣợng bán hàng, tự động hóa marketing) cũng ảnh hƣởng đến khả năng thành công CRM trong các doanh nghiệp. Hiện nay có khá nhiều luận văn thạc sĩ về quản trị quan hệ khách hàng 6 nhƣ nhƣng chủ yếu áp dụng vào thực trạng kinh doanh ở các lĩnh vực ngân hàng, viễn thông và bán lẻ. Đề tài nghiên cứu về quản trị quan hệ khách hàng trong lĩnh vực vận tải còn ít, các luận văn mà tác giả đã tham khảo đƣợc nhƣ sau: - Phan Thị Diễm Thúy (2012), đề tài Quản trị quan hệ khách hàng tại Công ty Danatrans, luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh, trƣờng ĐH Đà Nẵng. Đề tài nghiên cứu các thu thập, khai thác thông tin dữ liệu khách hàng, phân loại khách hàng và các chƣơng trình duy trì khách hàng của công ty.
Đề tài đƣa ra kiến nghị công ty phải xác định tầm chiến lƣợc CRM của ban lãnh đạo công ty, xác định mục tiêu sau đó xây dựng kế hoạch triển khai. - Đỗ Thị Duy Trinh (2013), đề tài Quản trị quan hệ khách hàng tại Công ty CP Vận Tải và Thuê Tàu ĐN, luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh, trƣờng ĐH Đà Nẵng. Đề tài đã tập trung nghiên cứu chủ yếu vào thực trạng hoạt động tại Công ty CP Vận Tải và Thuê Tàu ĐN trong thời gian 2010-2012. Nhận thấy những thành tựu và hạn chế tồn tại để từ đó thiết kế các hoạt động tại công ty nhằm gia tăng giá trị cho khách hàng, triển khai các ứng dụng công nghệ làm nền tảng cho các hoạt động CRM.
Ngoài ra tác giả còn tìm hiểu các bài viết trên website nhƣ bài “Kiến trúc CRM thành công” của tác giả Nguyễn Văn Hiếu, Giám đốc Công ty CP Phần mềm BSC trên website www.com đã chỉ ra rằng “ Để đạt đƣợc giá trị lâu dài của các giải pháp CRM, yêu cầu kiến trúc chiến lƣợc phải gồm toàn bộ các hoạt động kinh doanh, dịch vụ liên quan đến khách hàng của doanh nghiệp và trên mức độ toàn doanh nghiệp”. Tƣơng tự trên website www.com có bài viết “Hiểu đúng về CRM” đã giúp tác giả nhận ra CRM không phải là chỉ áp dụng trong phòng kinh doanh mà nó phải đƣợc thống nhất và áp dụng trên toàn công ty,… Các tài liệu là cơ sở tham khảo để đề tài thực hiện bao quát vấn đề về CRM tại Công ty CP Vận tải Đa Phƣơng Thức. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ QUAN HỆ KHÁCH HÀNG 1. KHÁCH HÀNG VÀ MỐI QUAN HỆ KHÁCH HÀNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.
Khách hàng a. Khái niệm khách hàng Khái niệm khách hàng đƣợc nhìn dƣới nhiều khía cạnh khác nhau, chẳng hạn nhƣ: - Theo quan niệm cổ điển: Khách hàng là ngƣời mua sắm sản phẩm hay dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp. Đối với mọi doanh nghiệp, khách hàng không chỉ là các khách hàng hiện tại mà tính đến cả khách hàng tiềm ẩn. - Theo quan điểm hiện đại: Khách hàng là những ngƣời mà bạn có quan hệ giao dịch kinh doanh.
Họ có thể là nhà đầu tƣ, cơ quan quản lý và cả những ngƣời làm việc trong doanh nghiệp. - Theo Phillips Kotler: “Khách hàng là đối tƣợng mà doanh nghiệp phục vụ và là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp”. Ở mỗi khía cạnh nghiên cứu khác nhau, góc độ và phạm vi khác nhau thì có những quan niệm khác nhau về khách hàng. Tuy nhiên, khi nghiên cứu quan hệ khách hàng với mục đích nhằm tăng giá trị cho công ty, chúng ta phải hiểu từ customer theo phạm vi rộng nhất bao gồm: khách hàng, nhà phân phối, nhà cung ứng, các đối tác, nhân viên, chính phủ… hay đó chính là các đối tƣợng thuộc giới hữu quan của công ty.
Các bên hữu quan là các cá nhân hay nhóm có tác động, và chịu tác động của các kết cục chiến lược, họ có quyền đòi hỏi đối với thành tích của doanh nghiệp. Các bên hữu quan và công ty có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau. Họ là nguồn lực tạo nên giá trị và lợi thế cạnh tranh của công ty, đồng thời cũng có quyền nhất định ở công ty. Có thể thấy trung tâm của các nhóm đối tƣợng này 8 là khách hàng.
Khách hàng là giới hữu quan quan trọng nhất, vì không có khách hàng thì không có doanh nghiệp. Các chiến lƣợc kinh doanh của công ty đều xuất phát từ nhu cầu khách hàng. Nhƣng không phải lúc nào công ty cũng đáp ứng khách hàng bằng mọi giá, vì lợi ích của khách hàng đôi khi mâu thuẫn với lợi ích của các bên hữu quan khác. Mục tiêu của công ty là tạo lợi thế cạnh tranh, khai thác tối ƣu các nguồn lực bằng các cân bằng giá trị giữa các bên hữu quan.
Phân loại khách hàng Phân loại khách hàng theo phạm vi [8,26] - Khách hàng bên ngoài: là những cá nhân, doanh nghiệp, các tổ chức đoàn thể bên ngoài tổ chức mua sắm hàng hóa hay dịch vụ do tổ chức cung cấp. - Khách hàng nội bộ: Là một các định nghĩa về đội ngũ nhân viên ngoài bộ phận của bạn, ở bên trong tổ chức, mà công việc của họ phụ thuộc vào bộ phận của bạn. Khách hàng nội bộ cũng có nhu cầu và mong muốn đòi hỏi doanh nghiệp phải thỏa mãn.