Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CĂN CỨ THỰC HIỆN ĐỀ ÁN 1. Các khái niệm cơ bản 1. Quản trị Quản trị có vai trò tối quan trọng trong một tổ chức, doanh nghiệp. Quản trị tốt sẽ giúp hoạt động của tổ chức, doanh nghiệp đạt hiệu quả như mong muốn.
Quản trị là từ dùng phổ biến trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và có nhiều quan niệm, cách giải nghĩa về quản trị. Trong Bộ Tư bản của Karl Marx, Marx đưa ra một hình ảnh về hoạt động quản trị, đó là hoạt động của người chỉ huy dàn nhạc. Người này không chơi một nhạc cụ nào mà đứng chỉ huy dàn nhạc công, tạo nên một bản giao hưởng. Theo Từ điển tiếng Việt, “Quản là trông coi, điều khiển”, “Trị là đưa vào khuôn khổ”.
“Quản trị có nghĩa là quản lý, điều hành công việc hàng ngày” [41, tr. Trong giáo trình Quản trị học của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, các tác giả định nghĩa: “Quản trị tổ chức là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra các nguồn lực và hoạt động của tổ chức, nhằm đạt được mục đích của tổ chức với kết quả và hiệu quả cao trong điều kiện môi trường luôn biến động” [29, Tr. Trong Cuốn sách “Quản trị học – Những vấn đề cơ bản”, tác giả Nguyễn Tấn Phước định nghĩa: “Quản trị là tiến trình hoạch định, tổ chức, bố trí nhân sự, lãnh đạo và kiểm soát những nỗ lực của con người, đồng thời vận dụng một cách có hiệu quả mọi tài nguyên (gồm con người, máy móc, thiết bị, nguyên liệu, tiền bạc, bí quyết, công nghệ…) để hoàn thành mục tiêu đã định” [42, tr. Có những cách nhìn khác nhau về quản trị nhưng chung quy lại, quản trị là quá trình thiết lập các mục tiêu lớn, kế hoạch tổng thể và chính sách cho tổ chức, từ đó các nhà quản trị điều hành và giám sát các hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu đó.
Quản trị là quá trình hoạch định, tổ chức, điều khiển và kiểm soát công việc và những nỗ lực của con người, đồng thời vận dụng một cách có hiệu quả mọi tài nguyên, để hoàn thành các mục tiêu đã định; 13 Là quá trình thực hiện các tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý để phối hợp hoạt động của các cá nhân và tập thể nhằm đạt các mục tiêu đã đề ra của tổ chức. Quản trị không chỉ là việc thực hiện các quy trình hay tuân thủ các quy tắc, quản trị là một nghệ thuật và khoa học trong việc đưa ra quyết định, làm cho mọi thứ diễn ra và đạt được mục tiêu thông qua việc sử dụng hiệu quả nguồn lực có sẵn. Quản trị đòi hỏi phải có tầm nhìn chiến lược, khả năng phân tích và đánh giá, cùng với kỹ năng giao tiếp và lãnh đạo hiệu quả. Trong quản trị, mỗi quyết định được đưa ra không chỉ dựa trên dữ liệu và phân tích, mà còn phải xem xét đến yếu tố con người, văn hóa tổ chức và môi trường luôn vận động.
Nhà quản trị phải sẵn sàng thích ứng với sự thay đổi, đồng thời luôn chú trọng đến việc phát triển và truyền cảm hứng cho đội ngũ của mình để cùng nhau đạt được thành công. “Quản trị” là khái niệm rộng hơn “quản lý”. Theo Từ điển tiếng Việt, “Quản lý là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định”/ “tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [41, tr. Từ định nghĩa trên và những tài liệu khác liên quan, có thể hiểu quản lý tập trung vào việc thực hiện, điều phối, giám sát các nhiệm vụ cụ thể, xử lý các vấn đề phát sinh, đảm bảo quy trình hoạt động của đơn vị/bộ phận/dây chuyền diễn ra theo hoạch định.
Quản lý có tính chất thực thi và ngắn hạn, liên quan đến các nhà quản lý chịu trách nhiệm điều hành nhóm hoặc bộ phận. Quản trị có tính chất chiến lược, hệ thống và dài hạn, liên quan đến lãnh đạo của cả cơ quan, doanh nghiệp. Quản trị là hoạt động bao quát, bao gồm quản lý. Thông tin Theo Điều 2 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, “Thông tin” là tin, dữ liệu được chứa đựng trong văn bản, hồ sơ, tài liệu có sẵn, tồn tại dưới dạng bản viết, bản in, bản điện tử, tranh, ảnh, bản vẽ, băng, đĩa, bản ghi hình, ghi âm hoặc các dạng khác do cơ quan nhà nước tạo ra.
Quản trị thông tin là việc sử dụng các phương thức để lập kế hoạch, tập hợp, tạo mới, tổ chức, sử dụng, kiểm soát, phổ biến và loại bỏ một cách hiệu quả các 14 thông tin. Các thông tin này bao gồm cả các bản ghi đã được cấu trúc lẫn thông tin chưa được cấu trúc. Đề án này tập trung vào quản trị thông tin trên báo chí, cụ thể là báo điện tử. Từ cách giải nghĩa về “thông tin” như trên, kết hợp với giải nghĩa từ ngữ tại Điều 3 Luật Báo chí 2016, có thể hiểu thông tin trên báo chí là tin tức, dữ liệu về các sự kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, đăng tải trên các loại hình báo chí.
Thông tin là cầu nối báo chí với công chúng. Thông tin báo chí nhằm mục đích truyền đạt thông tin một cách kịp thời về những sự kiện/sự việc mới diễn ra hoặc sắp diễn ra, giúp người đọc, người nghe hoặc người xem cập nhật các diễn biến mới nhất một cách nhanh chóng; Thông tin báo chí phải tuân thủ nguyên tắc đưa tin khách quan, minh bạch, dựa trên thực tiễn, không vì định kiến cá nhân. Thông tin báo chí công khai, phục vụ đông đảo độc giả, vì lợi ích chung của xã hội, giúp công chúng có cái nhìn đúng đắn về các vấn đề xã hội, chính trị, kinh tế, và văn hóa. Từ đó góp phần giúp công chúng nhận thức đúng đắn bản chất vấn đề, góp phần tạo đồng thuận vì sự tiến bộ của xã hội… 1.
Báo điện tử Báo điện tử có thể hiểu là một thể loại báo chí được xuất bản trên Internet. Báo điện tử cho phép người dùng truy cập, đọc và chia sẻ thông tin một cách nhanh chóng thông qua các thiết bị có kết nối mạng như máy tính, điện thoại thông minh, máy tính bảng hoặc những thiết bị kết nối mạng khác trong tương lai. Theo Điều 3, Luật Báo chí 2016, báo điện tử là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dẫn trên môi trường mạng, gồm báo điện tử và tạp chí điện tử. So với loại hình báo chí truyền thống là báo in trên giấy, báo điện tử cập nhật tin tức nhanh, liên tục theo thời gian thực; Báo điện tử tạo điều kiện cho độc giả truy cập linh hoạt trên nhiều thiết bị (máy tính, điện thoại, máy tính bảng…), giúp người dùng tiếp cận thông tin mọi lúc, mọi nơi; 15 Báo điện tử có tính tương tác cao, tạo tương tác trực tiếp với độc giả thông qua bình luận, chia sẻ, hoặc đánh giá tin/bài… ngay dưới tin/bài; Báo điện tử không bị giới hạn số trang, số chữ, khả năng lưu trữ và thường tích hợp nhiều hình thức chuyển tải nội dung như văn bản, hình ảnh, video, âm thanh; Báo điện tử không bị giới hạn không gian, thời gian, địa lý… Báo điện tử tạo khả năng tiếp cận nhanh, người dùng trên khắp thế giới có thể truy cập báo điện tử bất cứ lúc nào và ở bất cứ đâu, miễn là có Internet; Phần lớn báo điện tử hiện vẫn cung cấp miễn phí hoặc chi phí thấp so với báo in.
Giao diện báo điện tử cũng ngày càng thân thiện, tích hợp đa dạng các phương tiện truyền tải như video, hình ảnh, âm thanh… để tạo trải nghiệm phong phú hơn cho người đọc. Người chưa thành niên Người chưa thành niên (người vị thành niên, trẻ em) có thể hiểu là những người chưa đủ tuổi trưởng thành theo quy định của pháp luật. Tùy vào mỗi quốc gia, độ tuổi xác định chưa thành niên sẽ khác nhau, thường là dưới 18 tuổi. Theo Điều 1, Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền Trẻ em thì “trẻ em là những người dưới 18 tuổi, trừ khi luật pháp quốc gia công nhận tuổi thành niên sớm hơn”.
Ở Việt Nam, theo Điều 1 Luật trẻ em ban hành năm 2016: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”. Theo Điều 21 Bộ luật Dân sự 2015 thì “người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi”. Điều 143 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định: “Lao động chưa thành niên là người lao động chưa đủ 18 tuổi”. Như vậy, có thể hiểu, người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi.
Người chưa đủ 18 tuổi thường chưa phát triển hoàn thiện về mặt thể chất và tinh thần, do đó dễ chịu tác động của các yếu tố ngoại cảnh, khó kiểm soát hành vi. Người chưa thành niên chưa có đủ khả năng pháp lý để tự mình thực hiện một số hành vi nhất định, và thường cần có sự giám hộ hoặc sự đồng ý của người lớn (như cha mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp) trong các quyết định liên quan đến tài sản, quyền lợi, và trách nhiệm pháp lý. 16 Người chưa thành niên được chia thành 3 nhóm: - Người chưa đủ 6 tuổi: Giao dịch dân sự của người chưa đủ 6 tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện. - Người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi: Khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.
- Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi: Tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý. Việc xác định một người đã thành niên hay chưa có ý nghĩa trong việc có hiệu lực của giao dịch dân sự, chịu trách nhiệm hình sự… 1. Vi phạm của người chưa thành niên Vi phạm, theo Từ điển tiếng Việt, là “không tuân theo hoặc làm trái lại những điều quy định” [41, Tr.1460] Vi phạm mà học viên đề cập trong Đề án là vi phạm các quy định của pháp luật. Theo khoa học pháp lý, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật được chia thành: vi phạm hình sự, vi phạm hành chính, vi phạm dân sự và vi phạm kỷ luật.