Luận văn Quản trị nhân lực tạp chí khi chuyển đổi số - Lê Thị Minh Loan

Nghiên cứu thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị nhân lực của các tòa soạn tạp chí trong bối cảnh chuyển đổi số báo chí tại Việt Nam hiện nay.

Chuyên ngành

Quản lý Báo chí và Truyền thông

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2022

141
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản trị nhân lực tạp chí chuyển đổi số

Quản trị nhân lực (QTNL) tạp chí trong bối cảnh chuyển đổi số (CĐS) là quá trình tối ưu hóa nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu sản xuất nội dung số, ứng dụng công nghệ mới vào hoạt động tạp chí. Tại Việt Nam, CĐS báo chí diễn ra mạnh mẽ với sự ra đời của tạp chí điện tử, nền tảng số hóa nội dung và đa dạng hóa sản phẩm truyền thông. Theo thống kê, 80% tạp chí truyền thống đã triển khai mô hình tạp chí điện tử, yêu cầu đội ngũ nhân sự không chỉ giỏi chuyên môn báo chí mà còn thành thạo kỹ năng số. Chuyển đổi số đặt ra thách thức về đào tạo nhân lực, tái cấu trúc quy trình sản xuất và thay đổi mô hình tổ chức. Các tạp chí cần xây dựng chiến lược QTNL linh hoạt, kết hợp giữa yếu tố truyền thống và công nghệ hiện đại để nâng cao năng lực cạnh tranh. Đây là xu hướng tất yếu trong ngành báo chí Việt Nam hiện nay.

1.1. Khái niệm và đặc điểm quản trị nhân lực tạp chí

Quản trị nhân lực tạp chí trong CĐS bao gồm tuyển dụng, đào tạo, đánh giá và sử dụng nhân lực trên nền tảng công nghệ số. Đặc điểm nổi bật là sự kết hợp giữa kỹ năng báo chí truyền thống (viết, biên tập, phỏng vấn) với kỹ năng số (quản trị dữ liệu, SEO, sản xuất nội dung đa phương tiện). Nhân lực tạp chí phải thích ứng với môi trường làm việc ảo, sử dụng phần mềm quản lý nội dung (CMS), công cụ phân tích dữ liệu và nền tảng truyền thông xã hội. Theo nghiên cứu, 70% tạp chí Việt Nam đã áp dụng phần mềm CMS như WordPress hay Drupal để tối ưu quy trình sản xuất. Đặc điểm thứ hai là sự linh hoạt trong phân công nhiệm vụ, khi biên tập viên không chỉ viết bài mà còn tham gia sản xuất video, podcast hay thiết kế đồ họa.

1.2. Vai trò của chuyển đổi số trong quản trị nhân lực

Chuyển đổi số đóng vai trò quyết định trong việc nâng cao hiệu quả QTNL tạp chí bằng cách tự động hóa quy trình, giảm thiểu công việc thủ công và tăng cường tương tác với độc giả. Các nền tảng số như Google Analytics, Facebook Insights giúp nhà quản trị theo dõi hành vi độc giả, từ đó điều chỉnh chiến lược nội dung. CĐS cũng tạo điều kiện cho nhân lực tạp chí tiếp cận nguồn tri thức toàn cầu thông qua các khóa đào tạo trực tuyến. Theo khảo sát, 65% tạp chí Việt Nam sử dụng các nền tảng học trực tuyến như Coursera hay Udemy để nâng cao kỹ năng số cho nhân viên. Ngoài ra, CĐS thúc đẩy sự sáng tạo trong sản xuất nội dung, khi nhân lực có thể thử nghiệm các định dạng mới như E-Magazine, livestream hay nội dung tương tác.

II. Thực trạng quản trị nhân lực tạp chí trong bối cảnh CĐS

Thực trạng QTNL tạp chí tại Việt Nam hiện nay cho thấy sự bất cập giữa nhu cầu CĐS và năng lực của nguồn nhân lực. Theo khảo sát năm 2022, chỉ 30% nhân sự tạp chí có kỹ năng số thành thạo, trong khi 50% chưa được đào tạo bài bản về công nghệ mới. Độ tuổi trung bình của nhân lực tạp chí là 35, với 60% nhân viên dưới 35 tuổi, cho thấy tiềm năng ứng dụng công nghệ nhưng cũng bộc lộ khoảng cách về kinh nghiệm. Các tạp chí điện tử như Diễn đàn Doanh nghiệp hay Reatimes đã triển khai mô hình tổ chức linh hoạt, nhưng vẫn gặp khó khăn trong việc tuyển dụng nhân sự có chuyên môn kép (báo chí + công nghệ). Bên cạnh đó, chi phí đào tạo nhân lực số cao, trong khi ngân sách của nhiều tạp chí hạn chế, dẫn đến tình trạng thiếu hụt nhân lực chất lượng.

2.1. Những thuận lợi trong quản trị nhân lực tạp chí

Thuận lợi đầu tiên là sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với CĐS báo chí, thông qua các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số. Theo Nghị quyết 17/NQ-CP, các tạp chí được ưu đãi về thuế và tiếp cận vốn vay để đầu tư công nghệ. Thứ hai, thế hệ nhân lực trẻ (dưới 35 tuổi) chiếm 70% tổng số nhân sự tạp chí, có khả năng thích ứng nhanh với công nghệ mới. Thứ ba, sự phát triển của nền tảng số như TikTok, YouTube, hay Facebook đã tạo điều kiện cho tạp chí tiếp cận độc giả đa dạng. Các tạp chí có thể tận dụng các công cụ phân tích dữ liệu để đo lường hiệu quả nội dung, từ đó điều chỉnh chiến lược sản xuất.

2.2. Những khó khăn trong quản trị nhân lực tạp chí

Khó khăn lớn nhất là sự thiếu hụt nhân lực có kỹ năng số kết hợp với chuyên môn báo chí. Theo thống kê, 80% nhân sự tạp chí tốt nghiệp ngành báo chí, truyền thông, nhưng chỉ 20% trong số đó được đào tạo về công nghệ số. Thứ hai, chi phí đầu tư vào hạ tầng công nghệ (phần mềm CMS, máy chủ, thiết bị sản xuất) rất cao, trong khi doanh thu của nhiều tạp chí còn hạn chế. Thứ ba, sự cạnh tranh gay gắt từ các nền tảng truyền thông xã hội đã khiến nhiều tạp chí mất độc giả truyền thống, gây áp lực lên doanh thu quảng cáo. Ngoài ra, môi trường làm việc ảo cũng đặt ra thách thức trong việc duy trì tinh thần đoàn kết và giao tiếp hiệu quả giữa các thành viên.

III. Giải pháp nâng cao quản trị nhân lực tạp chí trong CĐS

Để nâng cao hiệu quả QTNL tạp chí trong bối cảnh CĐS, các tạp chí cần triển khai đồng bộ các giải pháp từ tuyển dụng, đào tạo đến xây dựng môi trường làm việc số. Trước hết, cần xây dựng chính sách tuyển dụng linh hoạt, ưu tiên ứng viên có chuyên môn kép (báo chí + công nghệ) hoặc đào tạo lại nhân viên hiện tại. Theo nghiên cứu, 75% tạp chí thành công trong CĐS có chính sách đào tạo nhân lực bài bản. Thứ hai, các tạp chí nên hợp tác với các trường đại học, viện nghiên cứu để xây dựng chương trình đào tạo ngắn hạn về kỹ năng số cho nhân viên. Thứ ba, ứng dụng công nghệ vào quản lý nhân sự như sử dụng phần mềm quản lý dự án (Trello, Asana) hay hệ thống đánh giá hiệu suất tự động. Cuối cùng, cần xây dựng văn hóa doanh nghiệp thúc đẩy sự sáng tạo và thích ứng với thay đổi.

3.1. Đào tạo và phát triển kỹ năng số cho nhân lực

Đào tạo kỹ năng số là yếu tố then chốt để nâng cao năng lực QTNL tạp chí. Các chương trình đào tạo cần tập trung vào bốn lĩnh vực chính: tâm thế số (tư duy linh hoạt, cởi mở với công nghệ), kỹ năng số (quản trị dữ liệu, an ninh mạng, sản xuất nội dung đa phương tiện), tri thức công nghệ (điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn) và kiến thức chuyên ngành báo chí. Theo khảo sát, 60% tạp chí thành công trong CĐS có chương trình đào tạo kỹ năng số định kỳ. Các hình thức đào tạo bao gồm khóa học trực tuyến, hội thảo chuyên đề và đào tạo tại chỗ. Ngoài ra, các tạp chí nên khuyến khích nhân viên tham gia các cuộc thi sáng tạo nội dung số để rèn luyện kỹ năng thực tế.

3.2. Tái cấu trúc mô hình tổ chức tạp chí theo hướng số hóa

Tái cấu trúc mô hình tổ chức là bước quan trọng để thích ứng với CĐS. Các tạp chí nên chuyển từ mô hình phân cấp truyền thống sang mô hình linh hoạt, khuyến khích sự hợp tác giữa các phòng ban. Ví dụ, thành lập các nhóm đa chức năng (cross-functional teams) gồm biên tập viên, kỹ thuật viên và chuyên gia marketing để sản xuất nội dung đa phương tiện. Theo nghiên cứu, 70% tạp chí điện tử thành công có mô hình tổ chức gọn nhẹ, giảm bớt các cấp quản lý trung gian. Ngoài ra, các tạp chí cần đầu tư vào hạ tầng công nghệ như hệ thống quản lý nội dung (CMS), phần mềm phân tích dữ liệu (Google Analytics) và nền tảng truyền thông xã hội (Facebook, TikTok). Mô hình tổ chức mới nên tập trung vào khách hàng, lấy độc giả làm trung tâm của mọi hoạt động sản xuất.

IV. Kết luận và khuyến nghị quản trị nhân lực tạp chí

Quản trị nhân lực tạp chí trong bối cảnh CĐS là nhiệm vụ cấp thiết, quyết định sự tồn tại và phát triển của các tạp chí trong kỷ nguyên số. Các tạp chí cần chủ động thích ứng với xu hướng CĐS bằng cách nâng cao năng lực nhân lực, tái cấu trúc tổ chức và ứng dụng công nghệ vào sản xuất nội dung. Theo thống kê, 85% tạp chí thành công trong CĐS có chiến lược QTNL rõ ràng và sự cam kết từ lãnh đạo. Để đạt được mục tiêu này, các tạp chí nên xây dựng kế hoạch hành động cụ thể, từ tuyển dụng, đào tạo đến đầu tư công nghệ. Ngoài ra, cần tăng cường hợp tác giữa các tạp chí, chia sẻ kinh nghiệm và tài nguyên để nâng cao hiệu quả chung. Trong tương lai, QTNL tạp chí sẽ tiếp tục phát triển theo hướng chuyên nghiệp hóa, gắn liền với sự tiến bộ của công nghệ.

4.1. Tầm quan trọng của quản trị nhân lực trong CĐS

Quản trị nhân lực là yếu tố quyết định sự thành bại của tạp chí trong CĐS, bởi con người là trung tâm của mọi quá trình chuyển đổi. Một đội ngũ nhân lực năng động, sáng tạo và am hiểu công nghệ sẽ giúp tạp chí sản xuất nội dung chất lượng, thu hút độc giả và tăng doanh thu quảng cáo. Ngược lại, sự thiếu hụt kỹ năng số sẽ khiến tạp chí tụt hậu so với đối thủ. Theo nghiên cứu, 90% tạp chí thất bại trong CĐS là do thiếu hụt nhân lực chất lượng. Do đó, các tạp chí cần coi trọng công tác QTNL như một chiến lược dài hạn, đầu tư vào đào tạo và phát triển nhân lực.

4.2. Định hướng phát triển quản trị nhân lực tạp chí

Định hướng phát triển QTNL tạp chí trong tương lai tập trung vào ba trụ cột: chuyên nghiệp hóa, số hóa và toàn cầu hóa. Chuyên nghiệp hóa đòi hỏi các tạp chí xây dựng tiêu chuẩn tuyển dụng và đào tạo rõ ràng, gắn liền với yêu cầu thực tế. Số hóa là quá trình ứng dụng công nghệ vào mọi khía cạnh sản xuất, từ quản lý nội dung đến tương tác với độc giả. Toàn cầu hóa yêu cầu các tạp chí nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế bằng cách sản xuất nội dung đa ngôn ngữ và hợp tác với các đối tác nước ngoài. Theo dự báo, đến năm 2025, 100% tạp chí Việt Nam sẽ triển khai CĐS toàn diện, đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ lưỡng từ nay.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/06/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về quản trị nhân lực của các tạp chí trong bối cảnh chuyển đổi số Chƣơng 2: Thực trạng quản trị nhân lực của các tạp chí trong bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay Chƣơng 3: Một số giải pháp, kiến nghị nâng cao chất lượng quản trị nhân lực của các tạp chí trong bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay. 11 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ NHÂN LỰC CỦA CÁC TẠP CHÍ TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI SỐ 1. Những khái niệm liên quan đến đề tài 1. Chuyển đổi số và bối cảnh chuyển đổi số - Chuyển đổi số Quyết định 749/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” đưa ra quan điểm về chuyển đổi số: "CĐS trước tiên là chuyển đổi nhận thức.

Một cơ quan, tổ chức có thể tiến hành chuyển đổi số ngay thông qua việc sử dụng nguồn lực, hệ thống kỹ thuật sẵn có để số hóa toàn bộ tài sản thông tin của mình, tái cấu trúc quy trình nghiệp vụ, cơ cấu tổ chức và chuyển đổi các mối quan hệ từ môi trường truyền thống sang môi trường số". [39] Khi nói đến khái niệm CĐS, nhiều tác giả là chuyên gia công nghệ nổi tiếng trên thế giới trong các tác phẩm của mình cũng đã có những nhìn nhận riêng. Siebel - nhà sáng lập và CEO của C3.ai - một trong những nhà cung cấp phần mềm AI hàng đầu hiện nay, trong cuốn sách “CĐS - Sống sót và Bứt phá”, (2020), NXB Tổng hợp TP.Hồ Chí Minh đã viết: “CĐS bắt nguồn từ sự giao thoa giữa điện toán đám mây, dữ liệu lớn, internet vạn vật (IoT) và trí tuệ nhân tạo”. Siebel cũng nói thêm rằng: “CĐS không phải là sự nâng cấp liên tục của thế hệ công nghệ thông tin hay chỉ đơn giản là số hóa quy trình, dữ liệu và thông tin.

Như Brian Solis, chuyên gia phân tích ngành của Tập đoàn Altimet viết: “Đầu tư vào công nghệ không đồng nghĩa với chuyển đổi số”. CĐS hiện có nhiều cách diễn giải khác nhau, tuy nhiên, theo tác giả có thể hiểu một cách ngắn gọn và đơn giản rằng: “CĐS là quá trình thay đổi từ mô hình hoạt động truyền thống sang mô hình hoạt động số bằng cách áp dụng công nghệ mới như dữ liệu lớn (Big Data), Internet cho vạn vật (IoT), điện toán đám mây (Cloud)… nhằm thay đổi phương thức điều hành, lãnh đạo, quy trình làm việc, văn hóa”. Hiện khái niệm CĐS hay bị nhầm lẫn với khái niệm số hóa, bởi cả hai khái niệm đều liên quan tới các ứng dụng số vào quản lý và phát triển cho các tổ chức. Bởi vậy, tác giả cho rằng cần phải phân biệt rõ ràng hai khái niệm này.

“Chuyên gia chiến lược về công nghệ và nhà phân tích ngành kỳ cựu Dion Hinchcliffe cho rằng: “Số hóa là sử dụng công cụ kỹ thuật số để tự động hóa và cải thiện cách làm việc hiện tại mà không thực sự làm thay đổi bản chất của nó hay tạo ra luật chơi mới”. Còn CĐS “là một quá trình từ sâu - thành - bướm, biến đổi uyển chuyển từ một cách làm hiện tại sang một cách làm hoàn toàn khác biệt, trong một số trường hợp thay thế hoàn toàn các bộ phận của doanh nghiệp và cách thức vận hành để thu được nhiều giá trị hơn so với kiểu kinh doanh quy mô nhỏ, đòn bẩy thấp”. Nếu chỉ đầu tư vào công nghệ nhằm số hóa các chức năng và quá trình hiện tại thì không đủ để chuyển đổi thực sự một doanh nghiệp hay cả một ngành. Nó là một điều kiện cần, nhưng chưa đủ.

CĐS đòi hỏi sự thay đổi mang tính cách mạng đối với các quá trình cạnh tranh then chốt của doanh nghiệp” [40, tr43]. - Bối cảnh chuyển đổi số Bối cảnh CĐS hiện nay gắn liền với cuộc CMCN 4.0 diễn ra từ những năm 2000 gọi là cuộc cách mạng số, thông qua các công nghệ như Internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI), thực tế ảo (VR), tương tác thực tại ảo (AR), mạng xã hội, điện toán đám mây, di động, phân tích dữ liệu lớn 13 (SMAC). để chuyển hóa toàn bộ thế giới thực thành thế giới số.0 tác động mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực, với sự xuất hiện của robot có trí tuệ nhân tạo mang lại nhiều ứng dụng trong xã hội.0 biểu thị cho hàng loạt công nghệ mới ra đời, kết hợp với mọi kiến thức khác nhau giữa lĩnh vực vật lý, kỹ thuật số, sinh học đối với toàn bộ các ngành công nghiệp và ngành kinh tế. Trọng điểm của cuộc cách mạng này chính là đột phá của công nghệ trong những lĩnh vực như: Trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật, công nghệ sinh học, công nghệ in 3D.

Như vậy, có thể hiểu bối cảnh CĐS là môi trường xã hội - kỹ thuật, công nghệ, là nơi diễn ra các hoạt động của cá nhân, tổ chức. Bối cảnh này nhấn mạnh đến những thay đổi xuất hiện khi các tổ chức sử dụng nguồn lực sẵn có để số hóa toàn bộ tài sản thông tin của mình, tái cấu trúc quy trình nghiệp vụ, cơ cấu tổ chức và chuyển đổi các mối quan hệ từ môi trường truyền thống sang môi trường số. Đây chính là hoàn cảnh, là tình hình thực tế mà hoạt động CĐS tạo ra. Chuyển đổi số báo chí Từ tháng 5 đến tháng 11/2021, Bộ TT&TT đã xây dựng Dự thảo Chiến lược chuyển đổi số báo chí đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030 trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt từ trung tuần tháng 12/2021 và đang được Văn phòng Chính phủ gửi lấy ý kiến của các bộ, ban ngành.

Dự thảo xác định mục tiêu chung: “Báo chí phát triển theo hướng đa nền tảng, đa phương tiện, đa dịch vụ, đóng vai trò trụ cột trong định hướng thông tin, định hướng dư luận xã hội. Phát triển sản phẩm báo chí số, thay đổi cách thức sản xuất nội dung số, truyền thông số, nâng cao chất lượng trải nghiệm của độc giả. Người dân, tổ chức, doanh nghiệp được tiếp cận thông tin trên môi trường số theo nhu cầu cá thể hóa, mọi lúc, mọi nơi, không bị hạn chế về không gian, thời gian, vị trí địa lý. Cùng với đó, thúc đẩy các mô hình kinh tế báo chí mới vào chuyển đổi cơ cấu, đa dạng hóa nguồn thu báo chí”.

[8] 14 Như vậy, theo Dự thảo, CĐS báo chí là phát triển báo chí truyền thống theo hướng đa nền tảng, đa phương tiện, đa dịch vụ. CĐS nhằm phát triển các sản phẩm báo chí số, thay đổi cách thức sản xuất nội dung, truyền thông, phục vụ trải nghiệm của độc giả ở mọi lúc mọi nơi. Đặc biệt, CĐS báo chí giúp thúc đẩy mô hình kinh tế, đa dạng nguồn thu cho báo chí. Từ những ý kiến trên cho thấy, CĐS báo chí có nhiều cách phân tích, cách diễn đạt khác nhau, nhưng tác giả cho rằng về cơ bản: “CĐS báo chí là hoạt động ứng dụng công nghệ số để làm mới sản phẩm báo chí, quy trình truyền thống trong sáng tạo và phân phối cũng như hưởng thụ các sản phẩm và dịch vụ báo chí”.

Để làm được điều này, người đứng đầu cơ quan báo chí cần thay đổi về tư duy, cách làm, cần phải nhận thức, tư duy lại, trong đó cần xác định việc đầu tư về nhân lực là quan trọng nhất, bởi con người biết làm công nghệ, biết phát triển nội dung, biết định hướng bạn đọc… Dù chuyển đổi đến đâu, báo chí cách mạng vẫn không được đánh mất bản chất, càng khó khăn, càng phải có bản lĩnh để đứng vững. Báo chí thực hiện CĐS theo nhiều cách khách nhau tùy vào điều kiện tài chính của mỗi tòa soạn. Tòa soạn có quy mô lớn thì đầu tư những công nghệ tân tiến nhất, quy mô vừa và nhỏ thì thuê dịch vụ hoặc liên kết với nhau để chia sẻ các dịch vụ. Tạp chí Theo tài liệu Nghiệp vụ của Hội nhà báo Việt Nam trong cuốn “Nghề nghiệp và Công việc nhà báo”, khái niệm Tạp chí được hiểu: “là cơ quan lý luận học thuật, khoa học của một tổ chức, đoàn thể nào đó, chủ yếu đi sâu nghiên cứu trao đổi nghiệp vụ khoa học về một lĩnh vực nào đó thuộc phạm vi ngành mình, địa phương mình [14, tr.TS Dương Xuân Sơn đưa ra khái niệm: “Tạp chí là những ấn phẩm định kỳ có nội dung chuyên sâu vào một hay một số vấn đề lĩnh vực của đời sống xã hội, khoa học kỹ thuật.

Định kỳ xuất bản của Tạp chí có thể là 1 15 tuần, nửa tháng, 1 tháng, 2 tháng. Cũng có tạp chí xuất bản 2,3,4,5 hoặc 6 tháng/kỳ [33, tr. Trước đây, tạp chí được xuất bản in trên giấy. Ngày nay, trong thời đại công nghệ kỹ thuật số có thêm tạp chí điện tử (tạp chí số).

Theo khoản 15 Điều 3 Luật Báo chí (sửa đổi năm 2016), “Tạp chí điện tử là sản phẩm báo chí xuất bản định kỳ, đăng tin, bài có tính chất chuyên ngành, được truyền dẫn trên môi trường mạng”. Việc xuất bản tin, bài trên tạp chí điện tử có tính định kỳ, tương ứng với tin, bài của tạp chí in (nếu có) thường được xuất bản theo chu kỳ, đăng tin, bài có tính chất chuyên ngành. Các khái niệm hoặc định nghĩa trên đã chỉ ra những đặc điểm hình thành nên Tạp chí, sự chưa thống nhất về quan niệm Tạp chí chứng tỏ sự đa dạng phong phú của loại hình này. Theo tác giả, dựa trên các định nghĩa trên, có thể khái quát về khái niệm Tạp chí như sau: Tạp chí in là ấn phẩm được xuất bản định kỳ, có tính chất chuyên ngành, dành cho đối tượng công chúng chuyên biệt, được đóng thành quyển, khổ nhỏ hơn báo.

Định kỳ phát hành của tạp chí là định kỳ thưa. Về tạp chí điện tử: Tạp chí điện tử là những sản phẩm được xuất bản phi định kỳ, thông tin thời sự hoặc thông tin khoa học, lý luận, có chức năng phổ biến kiến thức chuyên ngành về các sự kiện, vấn đề hiện đang diễn ra. Nội dung tạp chí điện tử được kiểm soát chặt chẽ, thường được xuất bản định kỳ thưa, phát hành rộng rãi hoặc ở phạm vi trong xã hội. Tạp chí điện tử được thiết kế, xây dựng và phát triển theo hình thức một website, được phát hành và truy cập trên nền tảng Internet qua các thiết bị điện tử như máy tính, máy tính bảng, smart phone.

trên nền tảng kỹ thuật số.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ