Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị nguồn nhân lực của doanh nghiệp. Chương 2: Phân tích thực trạng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao - DOVECO. Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản trị nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao - DOVECO. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Nguồn nhân lực 1. Khái niệm nguồn nhân lực Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm “Nguồn nhân lực”. Theo Liên hợp quốc: ”Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế, hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng”. World Development Indicators.
- London: Oxford, 2000 Thủ tướng Phan Văn Khải từng khẳng định trong buổi nói chuyện với cán bộ lãnh đạo thành phố Hà nội đăng trên web “Dân trí” rằng: “Nguồn nhân lực con người bao gồm cả sức lao động, trí tuệ và tinh thần gắn với truyền thống của dân tộc ta”. Như vậy, nguồn nhân lực là tất cả các cá nhân tham gia vào bất cứ hoạt động nào của tổ chức, doanh nghiệp, nhằm đạt được những thành quả của tổ chức, doanh nghiệp đó đề ra. Bất cứ tổ chức nào cũng được tạo thành bởi các thành viên là con người hay nhân lực của nó. Trong đó, nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực.
Nhân lực có ảnh hưởng rất lớn đến trình độ quản lý và trình độ sử dụng các yếu tố kinh doanh, nhân lực là yếu tố năng động, tích cực của mỗi quá trình sản xuất kinh doanh. Nhân lực khác với các nguồn lực khác của doanh nghiệp (tài chính, vốn, tài nguyên thiết bị…). Do đó, có thể nói nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó. Vai trò của nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Nguồn nhân lực có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp.
Cụ thể: Một là, nguồn nhân lực là nhân tố chủ yếu tạo lợi nhuận cho doanh nghiệp: Nguồn nhân lực đảm bảo mọi nguồn sáng tạo trong tổ chức. Chỉ có con người mới 5 sáng tạo ra các hàng hoá, dịch vụ và kiểm tra được quá trình sản xuất kinh doanh đó. Mặc dù trang thiết bị, tài sản, nguồn tài chính là những nguồn tài nguyên mà các tổ chức đều cần phải có, nhưng trong đó tài nguyên nhân văn - con người lại đặc biệt quan trọng. Không có những con người làm việc hiệu quả thì tổ chức đókhông thể nào đạt tới mục tiêu.
Hai là, đối với một doanh nghiệp nguồn nhân lực là nguồn lực mang tính chiến lược: Trong điều kiện xã hội đang chuyển sang nền kinh tế tri thức, thì các nhân tố công nghệ, vốn, nguyên vật liệu đang giảm dần vai trò của nó, trong khi đó nhân tố tri thức của con người ngày càng chiến vị trí quan trọng. Chính vì vậy mà đây luôn là yếu tố được các doanh nghiệp chú trọng quan tâm đầu tư cả về chất và về lượng. Nguồn nhân lực có tính năng động, sáng tạo và hoạt động trí óc của con người ngày càng trở nên quan trọng đối với sự phát triển của một doanh nghiệp. Ba là, nguồn nhân lực là nguồn lực vô tận: Xã hội không ngừng tiến lên, doanh nghiệp ngày càng phát triển và nguồn lực con người là vô tận.
Trong đó nhân lực đóng vai trò then chốt trong mọi hoạt động. Với sự năng động và sáng tạo, đặc biệt là thế hệ trẻ sẽ giúp cho doanh nghiệp rất nhiều trong việc tiếp thu những cái mới, nhạy bén trong việc học hỏi và nâng cao tri thức. Nếu người lãnh đạo biết khai thác những điểm mạnh này thì sẽ tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội, thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của con người đưa doanh nghiệp phát triển lên một tầm cao mới. Các đặc trưng cơ bản của nguồn nhân lực 1.
Số lượng nguồn nhân lực Số lượng nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực. Các chỉ tiêu này có quan hệ mật thiết với chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng dân số. Quy mô dân số càng lớn, tốc độ gia tăng dân số càng cao thì dẫn đến quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực càng cao và ngược lại. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa dân số và nguồn nhân lực được biểu hiện sau một thời gian nhất định (vì đến lúc đó con người mới phát triển đầy đủ mới có khả năng lao động).
6 Xét trong phạm vi một tổ chức thì số lượng nguồn nhân lực là tổng số người được tổ chức thuê mướn được trả công và được ghi vào danh sách nhân sự của tổ chức. Xét trong phạm vi quốc gia thì số lượng nguồn nhân lực hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế bao gồm toàn bộ những người đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động và đang có việc làm hoặc không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc. Chất lượng nguồn nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện ở mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực đó là các yếu tố về tinh thần, thể lực và trí lực. Về thể lực của nguồn nhân lực: Một trong những tiêu chí nói lên chất lượng nguồn nhân lực là tình trạng thể lực của người lao động, bao gồm các yếu tố như chiều cao, cân nặng, sức khỏe.
Các yếu tố này phụ thuộc chặt chẽ vào các điều kiện như: Mức sống, thu nhập, nghỉ ngơi, chăm sóc, y tế và các dịch vụ khác. Do đặc điểm thể trạng của người Châu Á nên người lao động Việt Nam nói chung có thể lực yếu hơn so với một số nước khác, nhất là các nước Phương Tây. Người Việt Nam thường kém thích nghi trong điều kiện lao động nặng nhọc và cường độ cao. Do đó, để nâng cao thể lực nguồn nhân lực, cần có các biện pháp cải thiện điều kiện dinh dưỡng, nhà ở và môi trường cho người lao động, tạo ra lối sống lành mạnh, tác phong làm việc khoa học, thực hiện tốt chế độ nghỉ ngơi và chăm sóc sức khỏe cho người lao động.
Về trình độ của nguồn nhân lực: Nhân tố trí lực của nguồn nhân lực thường được xem xét đánh giá trên hai góc độ: trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng thực hành của người lao động. Về trình độ văn hóa: Một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực là trình độ văn hóa nói chung và trình độ chuyên môn nghiệp vụ nói riêng. Trình độ văn hóa là khả năng về tri thức và kỹ thuật để có thể tiếp thu những kiến thức cơ bản, thực hiện những việc đơn giản để duy trì cuộc sống. Trình độ văn hóa là nền tảng cho việc tiếp thu các kiến thức khoa học kỹ thuật, đào tạo và đào tạo lại nghề nghiệp.
Vì vậy công tác giáo dục đào tạo đóng vai trò quyết định 7 trong việc nâng cao trình độ dân trí và trình độ học vấn cho người lao động để theo kịp với thực tế. Về trình độ chuyên môn kỹ thuật: Trình độ chuyên môn nghiệp vụ là kiến thức và kỹ năng cần thiết để đảm nhiệm các chức vụ trong quản lý, kinh doanh và các hoạt động nghề nghiệp khác nhau nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cho tổ chức mà mình làm việc. Lao động kỹ thuật bao gồm công nhân kỹ thuật từ bậc ba trở lên có bằng hoặc không có bằng cho tới những người có trình độ đại học trở lên. Một lực lượng lao động đông đảo có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao là đòi hỏi hàng đầu và là nhân tố quyết định sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Về phẩm chất tâm lý, xã hội của nguồn nhân lực: Ngoài yếu tố thể lực trí lực thì quá trình lao động đòi hỏi người lao động hàng loạt các phẩm chất khác nhau như tính kỷ luật, tự giác, tinh thần hợp tác và tác phong lao động công nghiệp, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc mà họ đảm nhận.
Quản trị nguồn nhân lực 1. Khái niệm và vai trò quản trị nguồn nhân lực 1. Khái niệm quản trị nguồn nhân lực Khái niệm quản trị nhân lực được trình bày theo nhiều góc độ khác nhau, tuy nhiên tựu chung lại, người ta đưa ra hai khái niệm quản trị nguồn nhân lực theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng. Quản trị nguồn nhân lực theo nghĩa hẹp là cơ quan quản lý làm việc cụ thể như: tuyển người, bình xét, giao công việc, giải quyết tiền lương bồi dưỡng, đánh giá chất lượng cán bộ nhân viên nhằm chấp hành tốt mục tiêu, kế hoạch của tổ chức.
Theo nghĩa này, ở Việt Nam, ta thường dùng khái niệm là công tác nhân sự, còn các tổ chức và các doanh nghiệp các nước khác gọi đó là quản lý nhân sự. Quản trị nguồn nhân lực theo nghĩa rộng thì ngoài nội dung quản lý nhân sự như trên, còn bao gồm mọi khâu từ tạo nguồn đầu vào, tiến hành điều phối, kiểm tra, lãnh đạo, hoàn thiện chương trình đào tạo, hoàn thiện cơ chế tạo động lực cho người lao động và xây dựng mối quan hệ giữa người quản lý và người bị quản lý 8 nhằm khai thác và sử dụng nguồn nhân lực có hiệu quả. Người ta nói rằng trong quản trị nguồn nhân lực hiện đại đó là quản trị nguồn nhân lực liên quan đến con người và những nhân tố xác định mối quan hệ giữa con người với tổ chức sử dụng con người đó. Như vậy, quản trị nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là sự tác động có tổ chức bằng quyền lực của chủ doanh nghiệp lên nguồn nhân lực có trong doanh nghiệp để bảo tồn, phát triển doanh nghiệp, nhằm đạt tới mục đích , mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp.
Vai trò quản trị nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Là một doanh nghiệp, khi tiến hành các hoạt động kinh doanh thì đều phải hội tụ đủ hai yếu tố, đó là nhân lực và vật lực. Các nguồn lực khác là điều kiện quan trọng, nhưng không có sức cạnh tranh tự thân mà phải được kết hợp với nhân lực để phát huy tác dụng và nâng cao hiệu quả kinh tế trong hoạt động kinh doanh.