Chương 1: Tổng quan về rủi ro tín dụng, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng quản trị nghiệp vụ phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Thành Chương 3: Giải pháp quản trị nghiệp vụ phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Thành 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG, PHÂN LOẠI NỢ VÀ TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Những vấn đề cơ bản về rủi ro tín dụng 1. Khái niệm rủi ro tín dụng 1.1 Khái niệm rủi ro Rủi ro thường tiềm ẩn trong đời sống xã hội cũng như trong các hoạt động kinh tế, chính trị. Rủi ro đe dọa cuộc sống của con người bởi vì đối với hầu hết mọi người, rủi ro ám chỉ một số hình thức không chắc chắn về hậu quả của một tình huống nhất định và khi rủi ro xảy ra, hậu quả của nó thường không có lợi cho chúng ta, hoặc không phải là kết quả mà chúng ta trông đợi.
Rủi ro không loại trừ một ai, một quốc gia, từ người tốt đến kẻ xấu, từ tập đoàn đa quốc gia danh tiếng đến công ty nhỏ mới thành lập,.trong quá trình hoạt động của họ đều có nguy cơ gặp rủi ro. Rủi ro có thể xuất hiện mọi lúc, mọi nơi, trong mọi công việc, từ những công việc mang tính chất riêng, các thương vụ làm ăn của doanh nghiệp, đến mối quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc, tôn giáo… và những vấn đề mang tính toàn cầu. Rủi ro có thể xuất hiện ở những chỗ, những nơi, vào những lúc mà không một ai có thể ngờ tới. Có rất nhiều người đưa ra các khái niệm rủi ro khác nhau nhưng nói chung đều ám chỉ về những sự kiện bất ngờ xảy ra và gây tổn thất cho con người.
Và thường thì các khái niệm được đưa ra tùy theo quan điểm của từng người và của từng ngành. Chẳng hạn, theo quan điểm của bảo hiểm, rủi ro được định nghĩa: - Là sự tổn thất ngẫu nhiên - Là khả năng có thể xảy ra tổn thất - Là khả năng có thể xuất hiện một biến cố không mong đợi Theo xác suất và thống kê “rủi ro là biến cố ngẫu nhiên có thể đo lường 4 được bằng xác suất”. Theo quan điểm hiện đại, rủi ro được định nghĩa là khả năng sẽ xảy ra một kết quả có lợi hay không có lợi từ mối nguy hiểm hiện hữu hay rủi ro là một điều kiện. Tác giả Nguyễn Hữu Thân trong cuốn Phương pháp mạo hiểm và phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh cũng quan niệm “rủi ro là sự bất trắc xảy ra mất mát, thiệt hại”.9, 3] Ngoài ra, cũng có một số cách định nghĩa về rủi ro khá hẹp, chỉ có giá trị trong một lĩnh vực nhất định.
Chẳng hạn, giới kinh doanh bảo hiểm coi các đối tượng được bảo hiểm cũng là rủi ro. Phân tích các định nghĩa trên cho thấy, tuy có sự khác biệt nhưng các định nghĩa này đều đề cập tới hai thuộc tính cơ bản của rủi ro đó là: - Kết quả không thể xác định chắc chắn: một khi tồn tại rủi ro trong một sự kiện hay hành động, sẽ phải có ít nhất hai kết quả có khả năng xảy ra. Nếu một sự kiện hay hành động mà kết quả của nó được biết chắc chắn thì sẽ không thể có rủi ro gắn với sự kiện hay hành động đó. Chẳng hạn việc đầu tư và các tài sản hữu hình như máy móc, thiết bị,… sẽ phải đối mặt với những tổn thất do hao mòn hữu hình và vô hình gây ra.
Kết quả này người đầu tư hoàn toàn biết trước nên việc phải gánh chịu những tổn thất nói trên không được coi là rủi ro. - Kết quả không mong muốn: trong các kết quả có thể xảy ra, ít nhất có một kết quả là không mong muốn. Kết quả không mong muốn thường được hiểu là một tổn thất hay thiệt hại về của cải hoặc con người. Từ những bất lợi và thiệt hại do rủi ro có thể mang lại nên con người luôn quan tâm và tìm cách hạn chế và quản lý nó sao cho tổn thất là nhỏ nhất.
Có thể nói, lịch sử phát triển của xã hội loài người gắn liền với quá trình đấu tranh nhằm ngăn ngừa, hạn chế và giảm thiểu rủi ro. Trong suốt lịch sử phát 5 triển của mình, con người đã bằng nhiều cách để giảm thiểu rủi ro nhưng khi có một rủi ro này được kiềm chế thì lại xuất hiện nguy cơ các rủi ro mới. Cùng với sự phát triển của xã hội, rủi ro xuất hiện ngày càng đa dạng và phức tạp.2 Khái niệm rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng vốn có được tạo ra khi cấp tín dụng cho khách hàng. Bất kỳ một khoản tín dụng nào được cấp ra đều phải tuân thủ theo hai nguyên tắc: khoản tín dụng đó phải được sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả và khoản tín dụng đó phải được hoàn trả cả vốn lẫn lãi đúng kỳ hạn đã cam kết.
Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, vì một lý do nào đó có thể là do chủ quan hoặc khách quan khiến cho nguyên tắc thứ 2 bị vi phạm tức là khoản tín dụng đó không được hoàn trả đủ và đúng kỳ hạn đã cam kết. Điều này sẽ làm cho ngân hàng ngân hàng chịu một khoản tổn thất như thiếu hụt vốn khả dụng, mất khả năng thanh toán,.Những tổn thất này người ta gọi là rủi ro tín dụng. Vậy từ đây, ta có thể đưa ra một khái niệm đầy đủ về rủi ro tín dụng: “Rủi ro tín dụng là những thiệt hại, mất mát mà ngân hàng phải gánh chịu do người vay vốn hay người sử dụng vốn của ngân hàng không trả đúng hạn, không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng tín dụng với bất kỳ lý do nào”. Nguyên nhân của rủi ro tín dụng Có 3 nhóm nguyên nhân cơ bản gây nên rủi ro tín dụng: nguyên nhân khách quan từ môi trường hoạt động kinh doanh, nguyên nhân từ phía khách hàng và nguyên nhân do chính ngân hàng tạo nên.
Nguyên nhân khách quan từ môi trường hoạt động kinh doanh Là những nguyên nhân mang tính bất khả kháng, đó là những thảm họa thiên nhiên như lũ lụt, bão, hạn hán, chiến tranh, do sự tác động của chu kỳ phát triển kinh tế, do cơ chế chính sách của nhà nước không hợp lý… sẽ gây 6 ảnh hưởng xấu đến môi trường hoạt động của khách hàng và môi trường đầu tư vốn của ngân hàng, đồng thời làm phá vỡ kế hoạch sản xuất kinh doanh của khách hàng vay vốn hoặc làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng vay vốn bị thua lỗ. Nguyên nhân từ phía khách hàng vay vốn Khả năng gây ra rủi ro trong hoạt động cho vay phổ biến và hay gặp nhất là từ phía khách hàng vay vốn đem lại. - Đối với khách hàng cá nhân, nguyên nhân gây ra rủi ro sau khi vay vốn ngân hàng gồm có: + Do công việc bị thay đổi hoặc mất việc làm, dẫn đến nguồn thu nhập không ổn định, ảnh hưởng đến nguồn trả nợ ngân hàng. + Rủi ro đạo đức như cố tình sử dụng vốn sai mục đích và không muốn trả nợ vay ngân hàng.
- Đối với khách hàng doanh nghiệp, có rất nhiều nguyên nhân gây ra rủi ro cho ngân hàng khi cho vay đối tượng khách hàng này. + Rủi ro từ phía thị trường của doanh nghiệp: Thị trường cung cấp đầu vào của doanh nghiệp bị hạn chế hoặc giá cả nguyên vật liệu đầu vào tăng cao làm cho giá thành sản phẩm và chi phí sản xuất tăng lên, sản phẩm của doanh nghiệp kém khả năng cạnh tranh về giá cả tiêu thụ. Sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất ra không còn phù hợp với thị trường, thị phần của doanh nghiệp bị thu hẹp. Các nguyên nhân khác: sản phẩm có sản phẩm khác thay thế, thị trường xuất hiện nhiều đối thủ cạnh tranh… Tất cả các nguyên nhân trên làm cho sản phẩm của doanh nghiệp khó tiêu thụ trên thị trường, ảnh hưởng đến nguồn trả nợ ngân hàng.
+ Do khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, làm thất thoát vốn vay 7 hoặc đồng vốn bỏ ra đầu tư kém hiệu quả, dẫn đến không trả được nợ vay ngân hàng. + Do người lãnh đạo doanh nghiệp thiếu năng lực và trình độ chuyên môn trong điều hành quản lý doanh nghiệp, dẫn đến tổ chức điều hành và quản lý yếu kém, hiệu quả sử dụng vốn vay giảm sút, giảm khả năng trả nợ ngân hàng. + Do khách hàng trây ỳ, cố tình không trả nợ ngân hàng mặc dù hoạt động sản xuất kinh doanh vẫn có lãi. Nguyên nhân từ phía bản thân ngân hàng thực hiện cho vay Ngoài những nguyên nhân trên, nguyên nhân chủ quan từ phía ngân hàng được thống kê cũng khá nhiều: - Do quá trình hoạch định chiến lược của ngân hàng tập trung vào cung ứng vốn với một tỷ lệ lớn cho một ngành nghề hoặc một nhóm đối tượng khách hàng ưu tiên, do đó lạc quan khi cho vay khách hàng này.
- Do cán bộ ngân hàng cho vay khách hàng thực hiện không nghiêm túc các bước của quy trình cho vay như không phân tích, đánh giá đầy đủ và thận trọng đối với khách hàng trước khi quyết định cho vay, không thực hiện kiểm tra giám sát sau khi cho vay,… - Thiếu thông tin về khách hàng và ngành nghề kinh doanh của khách hàng hoặc thông tin không đầy đủ, thiếu kịp thời… ảnh hưởng đến quá trình phân tích và quyết định cho vay. - Do trình độ quản lý và năng lực chuyên môn của cán bộ ngân hàng bị hạn chế, dẫn đến yếu kém trong quản lý khách hàng và quản lý món vay. - Do sự kiểm tra, giám sát khoản vay không thường xuyên, chậm trễ, không phát hiện kịp thời các dấu hiệu cảnh báo rủi ro đối với khách hàng. - Do cán bộ ngân hàng thiếu đạo đức nghề nghiệp, cố tình làm sai quy định cho vay của ngân hàng, thông đồng với khách hàng trong quá trình cho vay.
8 - Do ngân hàng gặp khó khăn trong việc tiếp cận, nắm giữ tài sản đảm bảo để xử lý chúng.3 Nội dung quản trị rủi ro tín dụng 1.