lời mở đầu, kết luận, danh mục viết tắt, danh mục bảng biểu sơ đồ, luận văn đƣợc kết cấu thành 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về quản trị công ty Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu và thiết kế luận văn Chƣơng 3: Thực trạng quản trị công ty tại Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam Chƣơng 4: Một số khuyến nghị để tăng cƣờng quản trị công ty tại Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Ngoại thƣơng Việt Nam 4 z Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Nghiên cứu của Trần Thị Thanh Tú (2015) trong cuốn sách “Quản trị công ty trong ngân hàng thông lệ quốc tế và thực tiễn Việt Nam” đã chỉ ra rằng, có nhiều nghiên cứu nƣớc ngoài về vài trò của quản trị công ty đối với hoạt động của doanh nghiệp. Phần lớn các nghiên cứu tập trung đánh giá mối quan hệ giữa quản trị và kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Trong các nghiên cứu này, quản trị công ty thƣờng đƣợc đánh giá theo các khía cạnh: vai trò của HĐQT, chính sách đãi ngộ … các yếu tố về văn hóa, tâm lý chƣa đƣợc đƣa vào mô hình nghiên cứu.
Các nghiên cứu này cho kết quả không rõ ràng về mối quan hệ giữa quản trị công ty và kết quả kinh doanh của công ty. Nghiên cứu của Nhâm Phong Tuân và Nguyễn Anh Tuấn (2013) về “Quản trị công ty vấn đề đại diện của các công ty đại chúng tại Việt Nam” cho thấy quản trị công ty là một chủ đề nóng đối với Chính phủ, các công ty đại chúng và các nhà nghiên cứu ở cả nƣớc ngoài và Việt Nam. Nhâm Phong Tuân và Nguyễn Anh Tuấn (2013) cho rằng nền tảng của quản trị công ty là lý thuyết đại diện. Lý thuyết này làm cơ sở cho việc phân tích thực trạng vấn đề đại diện, cụ thể là cấu trúc HĐQT của các công ty đại chúng niêm yết trên hai sàn HNX và HOSE của Việt Nam, từ đó đƣa ra một số giải pháp gợi ý cho Chính phủ và các doanh nghiệp.
Về ý nghĩa của việc quản trị công ty, nghiên cứu của Nguyễn Trƣờng Sơn (2010) về “Vấn đề quản trị công ty trong các doanh nghiệp Việt Nam” cho thấy quản trị công ty tốt có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo nên sự hài hòa các mối quan hệ giữa HĐQT, ban giám đốc, các cổ đông và các bên có quyền lợi liên quan trong doanh nghiệp, từ đó tạo nên định hƣớng và sự kiểm soát quá trình phát triển của doanh nghiệp. Quản trị công ty tốt sẽ thúc đẩy hoạt động và tăng cƣờng khả năng tiếp cận của doanh nghiệp với các nguồn vốn bên ngoài, góp phần tích cực vào việc tăng cƣờng giá trị doanh nghiệp, tăng cƣờng đầu tƣ và phát triển bền vững cho doanh nghiệp và nền kinh tế. Nguyễn Trƣờng Sơn (2010) cho rằng thời gian qua, 5 z các doanh nghiệp Việt Nam mặc dù có sự tăng trƣởng mạnh về số lƣợng, tuy nhiên chất lƣợng doanh nghiệp còn thấp, năng lực cạnh tranh yếu. Một trong những nguyên nhân cơ bản là năng lực quản trị, đặc biệt là quản trị công ty còn hết sức hạn chế.
Trên cơ sở khảo sát thực tiễn Nguyễn Trƣờng Sơn (2010) đi sâu phân tích thực trạng quản trị công ty trong các doanh nghiệp trên nhiều khía cạnh: khuôn khổ pháp lý, cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý của doanh nghiệp, tính minh bạch trong hoạt động, vấn đề bảo vệ quyền của cổ đông và ngƣời lao động… từ đó đƣa ra những nhận định tổng quát và các đề xuất nhằm tăng cƣờng năng lực quản trị công ty ở Việt Nam. Cũng về ý nghĩa của quản trị công ty trong ngân hàng, Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (2010) trong cuốn sách “Các nguyên tắc tăng cường quản trị công ty đối với các tổ chức ngân hàng” đã chỉ ra rằng, thị trƣờng và công chúng phản ứng rất nhạy cảm đối với bất kỳ khó khăn tiềm tàng nào phát sinh từ các yếu kém trong hệ thống quản trị công ty của ngân hàng. Vì thế quản trị công ty có liên quan mật thiết không chỉ với từng tổ chức ngân hàng mà cả hệ thống tài chính quốc tế và công tác hƣớng dẫn, giám sát nghiệp vụ ngân hàng. Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (2010) đã cung cấp các hƣớng dẫn cho các cơ quan giám sát nghiệp vụ ngân hàng đẩy mạnh việc áp dụng thực tiễn quản trị công ty vững mạnh trong tổ chức ngân hàng tại các quốc gia thành viên của Ủy ban này.
Ở khía cạnh kinh nghiệm quản trị công ty, nghiên cứu của Nguyễn Thúy Anh (2010) về “Kinh nghiệm quản trị công ty của Australia và bài học đối với doanh nghiệp Việt Nam” cho rằng, hệ thống quản trị công ty Australia đƣợc đánh giá là một trong những hệ thống tiên tiến hàng đầu thế giới với nhiều ƣu điểm nhƣ hệ thống quy định luật pháp chặt chẽ, vai trò của thành viên độc lập trong HĐQT đƣợc chú trọng, tính đa dạng của HĐQT đƣợc đề cao, việc công bố thông tin hiệu quả… Nguyễn Thúy Anh (2010) cho rằng những lợi thế này xuất phát từ một mô hình quản trị công ty phù hợp, với sự tách biệt rõ ràng giữa quyền sở hữu và quản lý cũng nhƣ kinh nghiệm phát triển thị trƣờng chứng khoán khá lâu đời của nƣớc này. Trong khi đó, quản trị công ty ở Việt Nam hiện tại không còn mới nhƣng vẫn còn nhiều vấn đề bất cập, đặc biệt liên quan đến hiệu quả hoạt động của HĐQT và công 6 z bố thông tin. Do vậy, nghiên cứu của Nguyễn Thúy Anh (2010) đƣa ra những kinh nghiệm từ sự phát triển quản trị công ty của Australia nhằm góp phần xây dựng hệ thống quản trị công ty hiệu quả tại Việt Nam. Về tiêu chuẩn đánh giá quản trị công ty, nghiên cứu của Hoàng Văn Hải và Trần Thị Hồng Liên (2012) về “Chất lượng quản trị công ty theo bộ tiêu chuẩn Gov-Score: Nghiên cứu điển hình các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội” đã xác định đánh giá chất lƣợng quản trị công ty của doanh nghiệp luôn là một mong muốn của các thành viên HĐQT và các đối tƣợng hữu quan khác, bởi đó là cơ sở tin cậy cho những phƣơng án cải tiến chất lƣợng tiếp theo.
Hoàng Văn Hải và Trần Thị Hồng Liên (2012) đã giới thiệu kết quả đánh giá mới nhất về chất lƣợng quản trị công ty của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội theo bộ tiêu chuẩn Gov-Score. Kết quả đánh giá đƣợc đƣa ra sau một khảo sát cho thấy chất lƣợng quản trị công ty của các doanh nghiệp này đang ở mức trung bình, đáp ứng ở mức tối thiểu yêu cầu của các quy định quản trị công ty hiện hành, tuy nhiên đã xuất hiện một số sự thực thi tiến bộ nhỏ ở vài doanh nghiệp. Để nâng cao chất lƣợng quản trị công ty, Hoàng Văn Hải và Trần Thị Hồng Liên (2012) đề xuất hai nhóm giải pháp cơ bản, gồm: thứ nhất, lấy cải cách khung khổ làm đòn bẩy nâng cao chất lƣợng quản trị công ty và thứ hai, tăng cƣờng bồi dƣỡng kiến thức về quản trị công ty cho tất cả các nhóm liên quan. Bên cạnh đó, IFC (2012) trong cuốn sách “Báo cáo Thẻ điểm Quản trị Công ty 2012” đã cung cấp một cơ sở mang tính chuẩn mực và hệ thống cho phép cơ quan quản lý và các nhà đầu tƣ có thể đánh giá hiện trạng quản trị công ty của doanh nghiệp cũng nhƣ có cái nhìn tổng thể về tình hình quản trị công ty tại Việt Nam; cho phép một công ty tự đánh giá chất lƣợng quản trị công ty của bản thân và thúc đẩy các công ty cải thiện thực tiễn quản trị công ty của mình; Xây dựng một hệ thống phân tích quản trị công ty theo ngành nghề và hy vọng hệ thống này có thể hỗ trợ việc cải thiện các thông lệ quản trị công ty tại Việt Nam; Hỗ trợ cơ quan quản lý trong việc xác định điểm mạnh và điểm yếu của luật lệ và thực tiễn quản trị công ty, từ đó đề ra các cải cách phù hợp; Đánh giá tiến triển của công tác quản trị công ty qua các năm; và Hỗ trợ 7 z nâng cao nhận thức và hiểu biết về các thông lệ quản trị công ty tốt.
Tiếp đến, nghiên cứu của Trần Thị Thanh Tú và Phạm Bảo Khánh (2013) về “Quản trị công ty trong ngân hàng Nghiên cứu điển hình tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần và Ngân hàng Thương mại Nhà nước” đã thể hiện quản trị công ty trong ngân hàng là một trong những mối quan tâm lớn của các nhà nghiên cứu, nhà hoạch định chính sách và đặc biệt là các ngân hàng, song ở Việt Nam, các nghiên cứu về lĩnh vực này còn hạn chế. Một nội dung rất quan trọng trong các tiêu chuẩn đánh giá năng lực quản trị công ty do OECD đề xuất là các tiêu chuẩn về vai trò của HĐQT. Ngoài ra, các nguyên tắc về quản trị rủi ro của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng cũng đề cập đến trách nhiệm của HĐQT trong ngân hàng. Qua đó, Trần Thị Thanh Tú và Phạm Bảo Khánh (2013) đã đánh giá trách nhiệm HĐQT của Ngân hàng thƣơng mại cổ phần và Ngân hàng thƣơng mại nhà nƣớc dựa trên các tiêu chuẩn về quản trị công ty của OECD và các nguyên tắc Basel.
Về vấn đề quản trị công ty trong DNNN, OECD (2010) trong cuốn sách “Hướng dẫn của OECD về quản trị công ty trong Doanh nghiệp Nhà nước” đã đƣa ra các khuyến nghị cụ thể về cách thức giải quyết các vấn đề phức tạp của vấn đề quản trị công ty tại DNNN. OECD (2010) đề xuất nhà nƣớc phải thực hiện chức năng sở hữu thông qua một cơ quan sở hữu tập trung hóa, hoặc thông qua các cơ quan điều phối hiệu quả. Các cơ quan này phải hoạt động độc lập và tuân thủ chính sách sở hữu đã đƣợc công bố công khai. OECD (2010) cũng đề nghị tách bạch quyền sở hữu nhà nƣớc với các chức năng quản lý.
Nếu đƣợc thực hiện đúng đắn, những khuyến nghị này và các đề xuất cải cách khác sẽ là một bƣớc tiến lớn trong việc đảm bảo quyền sở hữu nhà nƣớc đƣợc thực hiện một cách chuyên nghiệp và có trách nhiệm, và nhà nƣớc sẽ đóng một vai trò tích cực trong việc nâng cao quản trị công ty trong mọi khu vực của nền kinh tế. Kết quả là các doanh nghiệp sẽ vững mạnh hơn, có khả năng cạnh tranh cao hơn và minh bạch hơn.