phần mở đầu và phần kết luận, luận văn bao gồm 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản trị chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng của doanh nghiệp chăn nuôi. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng quản trị chuỗi cung ứng của Công ty TNHH Đầu tƣ và Phát triển Chăn nuôi gia công. Chƣơng 4: Giải pháp để hoàn thiện quản trị chuỗi cung ứng của Công ty TNHH Đầu tƣ và Phát triển Chăn nuôi gia công.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG VÀ QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG CỦA DOANH NGHIỆP CHĂN NUÔI 1. Tổng quan nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu 1. Tổng quan nghiên cứu quốc tế Theo Singh và Kumar (2012), quản lý chuỗi cung ứng (SCM) đã trở thành một phần không thể thiếu trong chiến lƣợc của tất cả các tổ chức bất kể quy mô và lĩnh vực của họ trong nền kinh tế kết nối và toàn cầu hóa hiện nay. Nghiên cứu này nhằm phân tích việc triển khai SCM và hiệu quả của nó trong một tổ chức xây dựng quy mô trung bình.
Khung Tình huống-Ngƣời thực hiện-Quy trình-Học tập-Hành động-Hiệu suất đã đƣợc áp dụng để phân tích các vấn đề khác nhau của SCM trong tổ chức này. Dựa trên phân tích quy trình, các hành động phù hợp đƣợc thực hiện để cải thiện hiệu suất của tổ chức. Nghiên cứu cũng đã cố gắng phát triển một khuôn khổ để đánh giá hiệu quả của SCM trong một tổ chức nhất định. Dựa trên nghiên cứu này, khuyến nghị rằng để nâng cao hiệu quả của Chuỗi cung ứng xây dựng, các tổ chức nên tập trung vào việc tùy chỉnh sản phẩm, giảm thiểu chất thải, vệ sinh và ứng dụng CNTT để giảm thời gian trễ trong các quy trình khác nhau.
Sukati (2018), mục đích nghiên cứu là khám phá mối quan hệ giữa chiến lƣợc quản lý chuỗi cung ứng và thực tiễn quản lý chuỗi đối với hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng. Các công cụ chính của công cụ thu thập dữ liệu đƣợc sử dụng là một bảng câu hỏi đƣợc quản lý cho tổng số mẫu gồm 200 nhà quản lý đƣợc phân loại theo chức danh công việc và ngƣời trả lời cũng đƣợc phân loại theo chức năng công việc của họ là giám đốc điều hành công ty, mua hàng, sản xuất/sản xuất, phân phối/hậu cần, SCM, vận chuyển, vật liệu và vận hành từ ngành sản xuất Malaysia. Tỷ lệ phản hồi là 62% trong khi 51% là bảng câu hỏi có thể sử dụng đƣợc. Việc chọn mẫu dựa trên phƣơng pháp lấy mẫu thuận tiện.
Dữ liệu đƣợc phân tích bằng giá trị trung bình, độ 6 lệch chuẩn và mối tƣơng quan giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc. Các phân tích liên quan đến các phƣơng pháp thống kê nhƣ kiểm tra độ tin cậy và tính hợp lệ và hồi quy bội. Phát hiện cho thấy các hoạt động quản lý chuỗi cung ứng có mối quan hệ tĩnh với hiệu suất chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, chiến lƣợc quản lý chuỗi cung ứng là một yếu tố dự báo yếu về hiệu suất quản lý chuỗi cung ứng Luo và cộng sự (2018), nghiên cứu điển hình về quản lý chuỗi cung ứng tại một công ty sản xuất ở Trung Quốc.
Theo tác giả, R&D là một công ty có vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài tham gia sản xuất linh kiện điện tử. Khi giá nguyên vật liệu thô và chi phí vận hành tăng lên, R&D gặp thách thức trong việc duy trì mối quan hệ nhịp nhàng giữa mức tồn kho, sự hài lòng của khách hàng và hiệu quả sản xuất. Bài báo này trƣớc tiên thảo luận về các yếu tố chính ảnh hƣởng đến mức tồn kho của R&D. Sau đó, nó kết hợp các lý thuyết quản lý chuỗi cung ứng gần đây và các phƣơng pháp định lƣợng có liên quan để đi đến các chính sách và chiến lƣợc đặt hàng tối ƣu nhằm giảm chi phí chung, đồng thời làm hài lòng khách hàng về mặt dịch vụ.2 Tổng quản tình hình nghiên cứu trong nước Lê Thị Thủy (2016), nghiên cứu về quản trị chuỗi cung ứng tại Công ty TNHH một thành viên Cao su Kon Tum.
Để đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, cạnh tranh và hội nhập quốc tế, Công ty TNHH MTV Cao su Kon Tum cần trú trọng đến công tác nghiên cứu và áp dụng quản trị chuỗi cung ứng tại công ty, việc áp dụng quản trị chuỗi cung ứng sẽ giúp cho công ty thiết lập mối liên kết giữa các nông hộ, nhà máy chế biến, đại lý thu mua và khách hàng nhằm nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm và năng lực cạnh tranh cho công ty. Việc quản trị thành công chuỗi cung ứng tại công ty sẽ giúp gia tăng giá trị lợi nhuận không những cho công ty mà còn đem lại lợi ích cho các tác nhân tham gia trong chuỗi. Điều này thúc đẩy các tác nhân tham gia trong 7 chuỗi cung ứng phát huy hết khả năng và lợi thế của mình thông qua việc đầu tƣ mở rộng diện tích trồng cao su, đầu tƣ thêm nhà máy chế biến, nâng cao chất lƣợng, đa dạng sản phẩm, mở rộng thị trƣờng tiêu thụ,. qua đó đem lại giá trị gia tăng cho toàn bộ chuỗi.
Theo Hà Đăng Khôi (2014), nghiên cứu về chuỗi cung ứng tại công ty cổ phần thƣơng mại Nguyễn Kim, chuỗi cung ứng có vai trò rất quan trọng trong hoạt động sản xuất và điều hành, nó ảnh hƣởng đến năng suất, chất lƣợng, chi phí sản phẩm hàng hóa và dịch vụ của công ty. Vì vậy, đối với công ty thƣơng mại Nguyễn Kim là công ty bán lẻ điện máy điện tử số 1 Việt Nam thì việc hoàn thiện hoạt động chuỗi cung ứng là rất cần thiết, nó giúp cho công ty có kế hoạch kinh doanh và phát triển nhƣ thế nào để đạt hiệu quả cao nhất. Đề tài “Hoàn thiện hoạt động chuỗi cung ứng tại công ty thƣơng mại Nguyễn Kim” đã từng bƣớc tìm hiểu về lý thuyết chuỗi cung ứng, nghiên cứu và phân tích tình hình hiện tại của công ty để dựa vào đó thiết lập chuỗi cung ứng cho công ty. Chuỗi cung ứng này sẽ góp phần tối ƣu hóa sản xuất, tối thiểu hóa chi phí và rút ngắn thời gian sản xuất, làm hài lòng khách hàng hiện tại và hứa hẹn mở rộng quy mô ở 64 tỉnh thành của Việt Nam trong tƣơng lai.
Nghiên cứu còn hạn chế là chƣa đi sâu vào các phƣơng án đánh giá đo lƣờng hiệu quả hoạt động của các khâu trong hoạt động chuỗi cung ứng để có thể theo dõi sự cải tiến hoạt động của chuỗi cung ứng và có những điều chỉnh thích hợp với những biến động của thị trƣờng trong nƣớc và quốc tế sắp tới. Nghiên cứu cũng c ần đánh giá kĩ chất lƣợng và sự hài lòng của đội ngũ nhân viên hi ện tại, vì nhân viên chất lƣợng là năng lƣợng sống cho hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng và sự phát triển của công ty. Lê Tiến Đạt (2017), nghiên cứu về quản trị chuỗi cung ứng tại công ty DKSH Việt Nam và các giải pháp cải tiến. Công ty DKSH Việt Nam ngay từ đầu đã xác định đƣợc tầm quan trọng của chuỗi cung ứng, đầu tƣ cơ sở hạ 8 tầng tƣơng đối tốt với hệ thống kho bãi chất lƣợng, nhƣng qua thời gian, nó lại chƣa đáp ứng một cách đầy đủ và xuất sắc những yêu cầu của thị trƣờng hiện tại, dẫn đến tình trạng quá tải và giảm hiệu quả hoạt động.
Để tiếp tục phát triển bền vững, duy trì vị thế dẫn dắt dịch vụ phát triển thị trƣờng, việc cần thiết trong thời gian tới là thay đổi, đầu tƣ hơn nữa vào hệ thống kho, áp dụng WMS và RFID ở tất cả các vị trí lƣu trữ, chuẩn hóa quy trình trên toàn quốc cũng nhƣ tăng chất lƣợng bảo vệ và camera giám sát. Công ty cũng xem xét áp dụng mô hình vận tải liên hoàn để tiết kiệm chi phí và phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận kinh doanh, thu mua, trung tâm phân phối để duy trì mức tồn kho hợp lý. Bên cạnh đó, những điểm mạnh trong việc phủ rộng mạng lƣới phân phối với mô hình đại diện vận tải hay các giải pháp tƣơng đối đầy đủ, đa dạng với tiêu chí lấy khách hàng làm trọng tâm cũng nhƣ tƣ duy sẵn sàng đổi mới để đạt hiệu quả về chi phí cần tiếp tục duy trì, phát huy. Trần Văn Hƣng (2016), đã thực hiện nghiên cứu chuỗi cung ứng của 26 doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn Hà Nội và vùng lân cận Luận văn trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về chuỗi cung ứng, đánh giá thực trạng các hoạt động của chuỗi cung ứng tại các doanh nghiệp sản xuất.
Tác giả đã xây dựng một mô hình đầy đủ về các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả chuỗi cung ứng các doanh nghiệp sản xuất bao gồm các nhân tố: Quản lý nhà cung ứng, hàng tồn kho, quy trình sản xuất, ứng dụng công nghệ,… Bùi Tấn Đạt (2019), đã nghiên cứu quản trị rủi ro chuỗi cung ứng nhập khẩu nguyên liệu cho các nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi tại công ty ngũ cốc Long vân KS. Tác giả đã khái quát những khái niệm về rủi ro, những lý luận chung về các yếu tố cơ bản trong quản trị rủi ro, kinh nghiệm của các doanh nghiệp khác trong quản trị rủi ro. Tác giả đã phân tích thực trạng công tác quản trị rủi ro của công ty Ngũ cốc Long vân và phân tích những ƣu điểm, 9 hạn chế trong công tác quản trị chuỗi cung ứng xuất nhập khẩu. Từ đó đƣa ra các giải pháp hoàn thiện chuỗi cung ứng của công ty bao gồm các giải pháp về yếu tố bên trong nhƣ: Nguồn lực,hoạch đinh và kiểm soát bán hàng.
Yếu tố bên ngoài: Từ đối thủ cạch tranh, cung cầu, chất lƣợng, vận chuyển, thiên tai, dịch bệnh, pháp lý. Nguyễn Đăng Minh và Nguyễn Thu Trâm (2021) đã thực hiện nghiên cứu về quản trị chuỗi cung ứng nông nghiệp thông minh ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các đối tƣợng trong chuỗi cung ứng nông nghiệp phát triển tự phát, thiếu sự gắn kết để trở thành một chuỗi cung ứng nông nghiệp thông minh. Dựa trên việc áp dụng có chỉnh sửa mô hình của Sunil Lauthra và cộng sự (2017) để phù hợp với đặc điểm nông nghiệp của Việt Nam, nhóm tác giả đã xây dựng mô hình xác định những điều kiện cần thiết để áp dụng quản trị chuỗi cung ứng nông nghiệp thông minh gồm 4 nhóm điều kiện: 1) Liên quan đến tổ chức; 2) Liên quan đến công nghệ; 3) Liên quan đến chiến lƣợc; và 4) Liên quan đến điều kiện về đạo đức và pháp luật.