CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ 1. TỔNG QUAN CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ 1. Khái niệm dịch vụ [6] Dịch vụ là kết quả đầu ra của một quá trình hay một hoạt động nào đó. Tuy nhiên, do tính chất vô hình của nó nên dịch vụ được định nghĩa là “kết quả của một quá trình hay một hoạt động nào đó nhưng không thể nhìn thấy được, không đo được và không đếm được”.
Hiện tại, có một số quan niệm sau về dịch vụ: Theo quan điểm truyền thống: Những gì không phải nuôi trồng, không phải sản xuất là dịch vụ. Như vậy, dịch vụ bao gồm các lĩnh vực hoạt động như: khách sạn, tiệm ăn, hiệu sửa chữa, giải trí, bảo tàng, chăm sóc sức khỏe, bảo hiểm, tư vấn, giáo dục, đào tạo, giao thông vận tải, các phương tiện công cộng. Theo cách hiểu phổ biến: Dịch vụ là một hoạt động mà sản phẩm của nó là vô hình. Nó giải quyết các mối quan hệ vời khách hàng hoặc với tài sản do khách hàng sở hữu mà không có sự chuyển giao quyền sở hữu.
Theo cách hiểu khác: Dịch vụ là một hoạt động xã hội mà hoạt động này đã xảy ra trong mối quan hệ trực tiếp giữa khách hàng và đại diện của công ty cung ứng dịch vụ. Theo IS0 8402: Dịch vụ là kết quả tạo ra do các hoạt động tiếp xúc giữa người cung ứng và khách hàng và các hoạt động nội bộ của người cung ứng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. -7- Theo ISO 9000: 2000: "Dịch vụ là kết quả của ít nhất một hoạt động cần được tiến hành tại nơi tương giao giữa người cung cấp và khách hàng và thường không hữu hình" 1. Đặc điểm dịch vụ a.
Dịch vụ có tính vô hình Đây là tính không thể nhìn thấy, không nếm được, không nghe được,không cầm được dịch vụ trước khi tiêu dùng chúng. Đặc điểm này đòi hỏi nhà quản trị dựa vào các yếu tố gián tiếp để cung ứng dịch vụ và đánh giá chất lượng dịch vụ. Tính không thể chia cắt Quá trình cung ứng và sử dụng dịch vụ diễn ra đồng thời. Vì vậy, dịch vụ không thể dự trữ, không thể lưu kho và hơn thế nữa, khách hàng là một trong những yếu tố trực tiếp quyết định chất lượng dịch vụ.
Không ổn định Chất lượng dịch vụ dao động trong một khoảng rất rộng, tùy thuộc vào hoàn cảnh tạo ra dịch vụ (như người cung ứng, địa điểm cung ứng). Sản phẩm dịch vụ không có khả năng lưu kho Đây cũng là một trong những đặc điểm của dịch vụ, nếu dịch vụ không được tiêu dùng thì nó sẽ mất đi không có khả năng lưu kho. Chất lượng dịch vụ và các yếu tố quyết định chất lượng dịch vụ a. Chất lượng dịch vụ So với một sản phẩm hữu hình thì chất lượng dịch vụ khó xác định, đo lường, kiểm soát và cải tiến hơn nhiều vì sản phẩm của dịch vụ là vô hình, không lưu giữ được, không tái sản xuất được, phụ thuộc vào từng cá nhân, có tính tự phát, tính không đảo ngược được và bao hàm cả yếu tố cảm xúc.
Tuy -8- nhiên, có một điều không thể bàn cãi là chất lượng dịch vụ được định nghĩa và đánh giá bởi khách hàng chứ không phải của người cung ứng dịch vụ. Chất lượng dịch vụ là "tập hợp các đặc tính của một đối tượng, tạo cho đối tượng đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn", nói cách khác, "chất lượng dịch vụ là mức độ hài lòng của của khách hàng trong quá trình cảm nhận và tiêu dùng dịch vụ, là dịch vụ tổng thể của doanh nghiệp mang lại chuỗi lợi ích và thỏa mãn đầy đủ nhất giá trị mong đợi của khách hàng trong hoạt động sản xuất cung ứng và trong phân phối dịch vụ ở đầu ra". Cũng có thể hiểu chất lượng dịch vụ đó là là sự thỏa mãn khách hàng được đo bằng hiệu số giữa chất lượng mong đợi và chất lượng đạt được. Khách hàng là người cảm nhận chất lượng đạt được và có sự so sánh với mức dịch vụ mong đợi, nếu chất lượng dịch vụ đạt được hoặc vượt trội sự mong đợi của khách hàng thì có nghĩa sản phẩm của doanh nghiệp có chất lượng hoàn hảo, nếu khách hàng cảm nhận rằng dịch vụ mà họ nhận được không như sự kỳ vọng của họ thì chất lượng dịch vụ là không đảm bảo và doanh nghiệp phải có kế hoạch thay đổi cho phù hợp với sự mong đợi của khách hàng.
Các yếu tố quyết định chất lượng dịch vụ Các doanh nghiệp có thể chiến thắng bằng cách cung cấp các dịch vụ chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh và đáp ứng được sự mong đợi của khách hàng. Chất lượng mong đợi chính là kỳ vọng của khách hàng về chất lượng dịch vụ. Kỳ vọng của khách hàng được tạo bởi 4 nguồn thông tin sau: thông tin truyền miệng, nhu cầu cá nhân, kinh nghiệm đã trải qua, quảng cáo và khuếch trương. Sự kỳ vọng của khách hàng cho thấy có 5 yếu tố quyết định chất lượng dịch vụ khách hàng, nhưng để dễ ghi nhớ người ta dùng từ viết tắt các chữ cái đầu là "RATER".
Các yếu tố này cũng là tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ. - Mức độ tin cậy (Reliability): Khả năng đảm bảo dịch vụ đã hứa hẹn một cách chắc chắn và chính xác. -9- - Sự đảm bảo (Assurance): Trình độ chuyên môn và sự nhã nhặn của nhân viên và khả năng tạo sự tin tưởng, tín nhiệm. - Yếu tố hữu hình (Tangibles): Bề ngoài của phương tiện vật chất, trang thiết bị, con người và phương tiện truyền thông.
- Sự thấu cảm (Empathy): Thái độ quan tâm lo lắng đến khách hàng - Trách nhiệm (Responsiveness): Sẵn sàng giúp đỡ khách hàng và đảm bảo dịch vụ nhanh nhất. Quảng cáo Thông tin Nhu cầu Kinh nghiệm khuếch truyền cá nhân đã trải qua trương miệng Các yếu tố quyết định chất lượng dịch vụ 1. Độ tin cậy Dịch vụ mong đợi Chất lượng 2. Sự đảm bảo dịch vụ 3.
Tính hữu hình nhận được 4. Sự thấu cảm Dịch vụ nhận được 5. Trách nhiệm Sơ đồ 1. Các yếu tố quyết định chất lượng dịch vụ Mô hình chất lượng dịch vụ của doanh nghiệp được xây dựng bởi Paruaman, Zeithame và Berry, trong đó đưa ra những yêu cầu chính để cung cấp những dịch vụ chất lượng cao.
Sơ đồ đưa ra 5 khoảng cách làm cho việc cung ứng dịch vụ không thành công. Việc đảm bảo và nâng cao chất lượng dịch vụ, thực chất là giảm và xóa bỏ các khoảng trống này. - Khoảng cách 1: Khoảng cách giữa kỳ vọng của khách hàng với sự cảm nhận của ban quản trị. Vì ban quản trị không phải lúc nào cũng lĩnh hội được những mong muốn của khách hàng.
Điều này là do tâm lý khách hàng là một yếu tố khó nắm bắt, có những khách hàng họ bộc lộ ngay những nhu cầu của họ nhưng có những khách hàng họ lại không muốn hay không thể diễn tả - 10 - được họ mong muốn điều gì và trong nhiều trường hợp những biểu hiện của họ là giả tạo. - Khoảng cách 2: Khoảng cách giữa nhận thức của ban quản trị về mong đợi của khách hàng và biến nhận thức thành các thông số chất lượng dịch vụ. Ban quản trị cần lĩnh hội được những gì mà khách hàng mong muốn chứ không phải là đặt ra những tiêu chuẩn. Mọi quyết định của ban quản trị đều phải xuất phát từ yêu cầu điều tra nhu cầu thực tế của khách hàng.
- Khoảng cách 3: Khoảng cách giữa quá trình tạo, cung ứng dịch vụ cho khách hàng với những gì đã thiết kế. - Khoảng cách 4: Khoảng cách giữa cung ứng dịch vụ thực tế với truyền thông ngoại vi. Những mong đợi của khách hàng bị ảnh hưởng bởi những người đại diện của doanh nghiệp. Nghĩa là doanh nghiệp đã đưa ra cho khách hàng một mức kỳ vọng cao hơn so với những gì doanh nghiệp có thể thực hiện được.
- Khoảng cách 5: Khoảng cách giữa dịch vụ nhận được và dịch vụ kỳ vọng. Khoảng cách này xảy ra khi khách hàng nhận thấy có sự sai khác về chất lượng dịch vụ. - 11 - Thông tin Nhu cầu Kinh nghiệm Quảng cáo truyền khẩu cá nhân đã trải qua khuyếch trương Dịch vụ được kỳ vọng khoảng cách 5 Dịch vụ được thụ hưởng Cung ứng khoảng Cung ứng dịch vụ Truyền thông ngoại vi cách 4 (gồm cả những tiếp xúc trước) tới khách hàng khoảng cách 3 - khoảng Thông đạt các nhận thức vào các cách 1 chuẩn mực chất lượng dịch vụ khoảng cách 2 Nhận thức của ban quản trị về kỳ vọng của khách hàng ------- : Phản hồi, tham khảo : Tác động trực tiếp Sơ đồ 1. Mô hình lý thuyết về các khoảng cách chất lượng dịch vụ Trên cơ sở phân tích các khoảng cách chất lượng dịch vụ, ta thấy rõ hệ thống quản trị chất lượng dịch vụ luôn nhằm hướng đến việc thu hẹp các khoảng cách theo đó quan điểm khách hàng về chất lượng có quan hệ chặt chẽ với quan điểm của nhà cung ứng dịch vụ.
Cụ thể: - 12 - + Để thu hẹp khoảng cách 1: tổ chức cần làm tốt công tác hoạch định chất lượng, cần làm tốt công tác nghiên cứu thị trường, triển khai hệ thống thông tin phản hồi để xác định đúng mong đợi của khách. + Để thu hẹp khoảng cách 2: chính là quá trình biến nhận thức, hiểu biết của lãnh đạo về nhu cầu khách hàng thành các thông số, chỉ tiêu cụ thể, do vậy cần phải có đội ngũ thiết kế chuyên nghiệp, hiểu rõ về chất lượng dịch vụ, và sự cam kết của lãnh đạo trong khâu thiết kế. + Để thu hẹp khoảng cách 3: tổ chức cần xác lập các quá trình cung ứng dịch vụ đảm bảo việc cung ứng theo đúng tiêu chuẩn thiết kế, tổ chức tốt công tác đào tạo cho nhân viên từ đào tạo nhận thức đến hành vi, kỹ năng phục vụ. + Để thu hẹp khoảng cách 4: tổ chức cần kích thích sự sáng tạo, cải tiến để chất lượng dịch vụ nhằm đạt hoặc vượt sự mong đợi của khách hàng + Để thu hẹp khoảng cách 5: tổ chức cần có kênh giao lưu thường xuyên giữa nhà cung ứng và khách hàng, đội ngũ nhân viên đủ năng lực để nhận biết kịp thời sự mong đợi của khách hàng 1.
NỘI DUNG, TIẾN TRÌNH TRIỂN KHAI HỆ THỐNG QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ Quản trị chất lượng dịch vụ là quá trình hoạch định, tổ chức thực hiện, giám sát đánh giá và điều chỉnh một chương trình cải tiến chất lượng.