mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Nguyễn Thị Thụy Vũ - “Ngƣời ghi chép” về cuộc sống đô thị miền Nam Ở chƣơng này, chúng tôi sử dụng chủ yếu phƣơng pháp lịch sử xã hội để làm rõ những đặc điểm của văn học đô thị miền Nam, cùng với cuộc đời và sự nghiệp văn học của nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ. Trong đó, chúng tôi đặc biệt nhấn mạnh đến những đóng góp mới mẻ trong thể loại truyện ngắn của nhà văn với dòng chảy của văn xuôi Việt Nam hiện đại. Chƣơng này gồm 19 trang. 10 Chƣơng 2: Quan niệm nghệ thuật về con ngƣời trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thụy Vũ - nh n từ nội dung t s Trong chƣơng này, bằng phƣơng pháp loại hình, phƣơng pháp tiếp cận thi pháp học, và phƣơng pháp lịch sử xã hội, chúng tôi làm rõ quan niệm nghệ thuật về con ngƣời trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thụy Vũ, với những kiểu ngƣời: con ngƣời bế tắc, tuyệt vọng; con ngƣời cô đơn, lạc lõng; con ngƣời phá cách, nổi loạn; con ngƣời khát vọng tình yêu.
Chƣơng này gồm 53 trang. Chƣơng 3: Quan niệm nghệ thuật về con ngƣời trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thụy Vũ - nhìn từ phƣơng thức t s Đây là chƣơng làm rõ về các phƣơng thức thể hiện quan niệm về con ngƣời nhƣ: nghệ thuật miêu tả nhân vật, ngôn ngữ kể, giọng điệu trần thuật qua ba tập truyện ngắn của nhà văn để thấy đƣợc sự biến hóa linh hoạt, thay đổi liên tục của các yếu tố này. Chúng tôi sử dụng chủ yếu phƣơng pháp tiếp cận thi pháp học và phƣơng pháp loại hình để thấy đƣợc những khám phá độc đáo và sáng tạo nghệ thuật của nhà văn. Dung lƣợng của chƣơng này là 30 trang.
11 CHƢƠNG 1 NGUYỄN THỊ THỤY VŨ - “NGƢỜI GHI CHÉP” VỀ CUỘC SỐNG ĐÔ THỊ MIỀN NAM 1. Diện mạo của văn học đô thị miền Nam 1. Văn học đô thị miền Nam - một dòng chảy trầm lặng Khi nói về văn học đô thị miền Nam, Bùi Việt Thắng đã viết: “Văn học đô thị là từ chỉ văn học ở lãnh thổ miền Nam dƣới quyền kiểm soát của chính phủ Sài Gòn tồn tại trong các đô thị, chúng ta gọi là văn học đô thị của miền Nam trƣớc đây” (Bùi Việt Thắng, 2009). “Sau năm 1954, Việt Nam bị chia cắt làm hai miền.
Và văn học cũng bị phân chia: một nền văn học cách mạng ở miền Bắc và ở các vùng giải phóng của miền Nam, và một nền văn học ở vùng tạm bị chiếm miền Nam. Tất nhiên, sự phân chia này chỉ là tƣơng đối, trên thực tế ta có thể nói tới một “dòng văn học tiến bộ” trong vùng bị chiếm ở miền Nam…. Giai đoạn 1954 - 1975, do hoàn cảnh đặc biệt của lịch sử, đất nƣớc bị chia cắt thành hai miền. Điều này đã tạo nên sự khác biệt trong tiến trình vận động và phát triển của văn học dân tộc.
Nếu ở miền Bắc, văn học phát triển thống nhất dƣới sự lãnh đạo của Đảng thì ở miền Nam, văn học phát triển vô cùng phức tạp với nhiều khuynh hƣớng khác nhau. Bên cạnh bộ phận văn học yêu nƣớc và cách mạng lại có bộ phận văn học phản cách mạng. Bên cạnh văn học trong lòng đô thị miền Nam, lại có văn học cách mạng trong vùng giải phóng. Do vậy bức tranh văn học miền Nam đan xen những quan điểm, khuynh hƣớng khác nhau, phản ánh trung thực tình hình văn học đô thị miền Nam.
Có thể nói, xã hội đô thị miền Nam từ 1954 - 1975 là một xã hội trộn lẫn nhiều nền văn hóa, trong đó có văn hóa phƣơng Tây và văn hóa Mỹ. Với chủ trƣơng mở cửa du nhập văn hóa nƣớc ngoài một cách tự do, nhiều trƣờng phái triết học, mỹ học, văn học phƣơng Tây đã tràn vào miền Nam và ảnh hƣởng trực tiếp đến đời sống văn học. Có thể nói rằng đây là giai đoạn văn học đô thị miền Nam phát triển rất đa dạng về thể loại và phong phú về nội dung. Vì vậy sự phát triển rực rỡ của đô thị miền Nam, cụ thể là Sài Gòn, trong giai đoạn này đã tạo nên 12 một sắc màu tƣơng phản với những vùng nông thôn rộng lớn xung quanh vốn còn nhiều vất vả và thiếu thốn trong chiến tranh.
Sài Gòn lúc này đƣợc xem là hòn ngọc viễn đông bởi sự giàu có, xa hoa bậc nhất vùng Đông Á, một nơi có đầy đủ tiện nghi nhƣ một thành phố phƣơng Tây, đƣợc các quan khâm sứ nƣớc ngoài yêu thích, đƣợc các thuỷ thủ thế giới nhắc đến một cách đầy hứng thú. Đi kèm với nó là vũ trƣờng, cờ bạc, ma tuý, thất nghiệp, và những con ngƣời đói rách tận cùng. Đội ngũ sáng tác của văn học đô thị miền Nam khá đông đảo. Trong Hai mươi năm văn học miền Nam 1954 - 1975, Võ Phiến thống kê có khoảng 267 tác giả.
Chiếm hơn một nửa là tác giả văn xuôi. Họ là những nhà văn, nhà thơ di cƣ từ Bắc vô Nam, có những ngƣời đã thành danh ở ngoài Bắc từ trƣớc đó, khi vào Nam, họ vẫn tiếp tục sáng tác nhƣ: Nhất Linh, Vũ Bằng, Vi Huyền Đắc… Bên cạnh đó, có rất nhiều ngòi bút khi vào Nam lập nghiệp mới bắt đầu sự nghiệp sáng tác và đã khẳng định đƣợc tên tuổi nhƣ: Dƣơng Nghiễm Mậu, Duyên Anh, Y Uyên… Và không thể không kể đến một thế hệ những nhà văn miền Nam nhƣ Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, Trang Thế Hy, Lê Vĩnh Hòa, Viễn Phƣơng, Hà Huy Hà, Vân Trang… Họ là những ngƣời đã từng tham gia kháng chiến, những ngƣời có cảm tình với kháng chiến hoặc chỉ có tình yêu văn chƣơng và tinh thần dân tộc. Văn học đô thị miền Nam bị ám ảnh bởi chính trị. Trong văn học có sự phân hóa về tƣ tƣởng chính trị, về nhận thức xã hội.
Sự phân hóa ấy diễn ra quyết liệt, thậm chí dẫn đến cực đoan ở một số nhà văn. Bên cạnh đó cũng có một lớp nhà văn không màng đến thời cuộc. Nghiêm Xuân Hồng từ từ hƣớng đến các suy tƣởng tôn giáo. Vũ Khắc Khoan tìm đến thế giới hƣ vô, hoài nghi.
Nguyễn Mạnh Côn đi vào lý thuyết trầm tƣ, siêu hình, bí hiểm. Càng về sau, từng cá nhân giới văn nghệ sĩ có nhiều thay đổi chuyến biến, nhƣng nền văn học của thời kì này vẫn canh cánh những lo toan về thời cuộc. Sự khủng hoảng về mặt tinh thần, các chấn động tình cảm của thời cuộc củng trở thành nỗi ám ảnh trong văn học đô thị miền Nam Đó là một nền văn học sinh động với nhiều sắc thái, khuynh hƣớng, dòng mạch, thành phần khác nhau, từ truyền thống cho đến hiện đại; từ yêu nƣớc, cách 13 mạng cho đến tay sai, phản cách mạng. Nó phản chiếu một cách khách quan thực trạng xã hội, tâm lý thời đại của miền Nam Việt Nam dƣới chính thể Việt Nam Cộng hòa.
Là một thể loại văn học phát triển trong hoàn cảnh lịch sử chính trị đầy biến động, phức tạp, truyện ngắn ở đô thị miền Nam có những thành tựu và giá trị riêng không thể phủ nhận. Nó vừa là lăng kính phản ánh một cách sinh động hiện thực xã hội, thực tế đời sống lại vừa bộc lộ diện mạo của nền văn học nghệ thuật, chân dung của chính nhà văn thông qua những suy tƣ, những ý hƣớng mà họ đã gửi gắm vào trong trang viết. Trong tiến trình phát triển của văn xuôi Việt Nam hiện đại, văn học đô thị miền Nam từ năm 1954 - 1975 là một mảng riêng có vị trí quan trọng. Nó góp phần làm cho diện mạo của nền văn học dân tộc trở nên đa dạng, phong phú.
Đây cũng là một dòng chảy trầm lặng với những sáng tác có giá trị lớn lao cả về nội dung tƣ tƣởng lẫn hình thức nghệ thuật. Lâu nay, văn học đô thị miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 vẫn còn là một đối tƣợng ít đƣợc nghiên cứu. Vì nhiều lý do khác nhau, nhiều tác phẩm có giá trị của văn học miền Nam trƣớc 1975 vẫn còn xa lạ đối với công chúng đƣơng đại, mặc dù về lý thuyết, đây là một bộ phận không thể chối bỏ của lịch sử văn học Việt Nam. Tuy tồn tại trong một khoảng thời gian không dài, chỉ hơn hai thập niên từ 1954 đến 1975 nhƣng văn học miền Nam Việt Nam đã để lại không chỉ là sự phong phú về thể loại, đồ sộ về số lƣợng mà còn phức tạp về nội dung, tƣ tƣởng, cần có nhiều thời gian, công sức để các nhà nghiên cứu phê bình đánh giá lại một cách công tâm.
Những thành tựu chủ yếu của văn học đô thị miền Nam Hai mƣơi năm đất nƣớc bị chia cắt gây ra sự xáo trộn trong tâm hồn con ngƣời. Các nhà văn của miền Nam Việt Nam cũng không nằm ngoài sự tác động ấy. Trong bối cảnh văn hóa đa chiều và sôi động, đặc biệt là sự ảnh hƣởng của văn hóa phƣơng Tây, nhất là văn hóa Mỹ vào xã hội đô thị miền Nam đã chi phối phƣơng pháp sáng tác cũng nhƣ hệ tƣ tƣởng của ngƣời nghệ sĩ, văn xuôi giai đoạn 1954 - 1975 ở các vùng đô thị miền Nam vƣợt trội hơn so với thơ cả về số lƣợng lẫn chất 14 lƣợng nhất là ở các thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết, tùy bút, tạp bút. Lấy chất liệu từ hiện thực cuộc sống và chủ yếu hƣớng tới hiện thực cuộc sống, tác phẩm văn xuôi giai đoạn này đã đáp ứng đƣợc khá linh hoạt nhu cầu của ngƣời đọc tại các vùng đô thị.
Ở làng quê và các vùng nông thôn xa xôi, sách và báo chí chƣa có điều kiện đến gần, nhƣng nhiều ngƣời nông dân vì chiến tranh, vì mƣu sinh phải từ giã ruộng đồng đến sống ở thành phố, hình thành nên một lớp độc giả mới của đô thị. Trong hành trình phát triển của văn học đô thị miền Nam Việt Nam, không thể không nhắc đến một lực lƣợng sáng tác đông đảo các nữ văn sĩ thời kì này. Trong công trình Các nhà văn nữ 1900 - 1970, xuất bản năm 1973 tại Sài Gòn, tác giả Uyên Thao cho rằng “diễn trình sinh hoạt văn nghệ nữ giới trong 70 năm đầu của thế kỷ 20 sẽ phải dừng lại ở hai năm mà văn nghệ nữ giới Việt Nam đạt tới một số thành tích có đủ tầm vóc ảnh hƣởng cả một trào lƣu sinh hoạt” (Uyên Thao, 1973). Điều đó, có nghĩa là, ông đang muốn nhắc tới hai sự kiện nổi bật khẳng định sự đóng góp quan trọng của những cây bút nữ sĩ.