phần mở đầu, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo thì đƣợc thiết kế thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động xuất khẩu lao động Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động xuất khẩu lao động của nƣớc CHDCND Lào Chƣơng 3: Giải pháp góp phần hoàn thiện quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động xuất khẩu lao động của nƣớc CHDCND Lào. 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 1. Hoạt động xuất khẩu lao động 1.1 Khái niệm Ngƣời lao động (NLĐ) đi làm việc ở nƣớc ngoài - thƣờng đƣợc gọi bằng thuật ngữ "Di cƣ lao động quốc tế" là một hiện tƣợng xã hội đã xuất hiện từ lâu và gắn liền với lịch sử phát triển của loài ngƣời. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng di cƣ lao động quốc tế, nhƣng lý do kinh tế vẫn là lý do chủ yếu.
Di cƣ lao động quốc tế thƣờng đƣợc thể hiện ở hai hình thức là di cƣ tự do và di cƣ có tổ chức. Điểm mới trong di cƣ lao động quốc tế thời kỳ hiện đại là hình thức di cƣ có tổ chức, NLĐ đi làm việc ở nƣớc ngoài, có sự can thiệp và quản lý của Chính phủ các quốc gia. Hoạt động đƣa NLĐ đi làm việc ở nƣớc ngoài hay chính là hoạt động XKLĐ là một hình thức đặc thù của xuất khẩu nói chung và là một bộ phận của kinh tế đối ngoại, mà hàng hoá đem xuất khẩu là sức lao động sống của con ngƣời, còn khách “mua” là chủ sử dụng lao động nƣớc ngoài. Nói cách khác, xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh tế dƣới dạng dịch vụ cung ứng lao động cho nƣớc ngoài, mà đối tƣợng của nó là con ngƣời [5, tr.
Hoạt động xuất khẩu lao động là một hoạt động tất yếu khách quan của quá trình chuyên môn hoá và hợp tác quốc tế giữa các nƣớc trong sản xuất, nhằm bổ sung nhân lực giữa các quốc gia, khắc phục các mặt khó khăn và phát huy sức mạnh vốn có của mỗi quốc gia. Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO, 1991) thì “XKLĐ là hoạt động kinh tế của một quốc gia thực hiện việc cung ứng lao động cho một quốc gia khác trên cơ sở những hiệp định hoặc hợp đồng có tính chất hợp pháp quy định đƣợc sự thống nhất giữa các quốc gia đƣa và nhận ngƣời lao động” [24, tr. 9 Xét theo hƣớng tiếp cận của nội dung nghiên cứu này, khái niệm xuất khẩu lao động có thể đƣợc khái quát nhƣ sau: Xuất khẩu lao động là hoạt động đƣa ngƣời lao động đi làm việc có thời hạn ở nƣớc ngoài. Xuất khẩu lao động có tổ chức, hợp pháp thông qua các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp đƣợc cấp giấy phép hoạt động xuất khẩu lao động.
Xuất khẩu lao động bao gồm nhiều hoạt động khác nhau nhƣ tuyển chọn lao động; ký kết các hợp đồng liên quan đến việc ngƣời lao động đi làm việc ở nƣớc ngoài; dạy nghề, ngoại ngữ cho ngƣời lao động; tổ chức bồi dƣỡng kiến thức cần thiết cho ngƣời lao động trƣớc khi đi làm việc ở nƣớc ngoài; quản lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời lao động đi làm việc ở nƣớc ngoài; thực hiện các chế độ, chính sách đối với ngƣời lao động đi làm việc ở nƣớc ngoài;.và các hoạt động khác của tổ chức, cá nhân có liên quan đến ngƣời lao động đi làm việc ở nƣớc ngoài.2 Đặc điểm xuất khẩu lao động Do sức lao động là một loại hàng hóa đặc biệt nên hoạt động XKLĐ có những đặc điểm riêng biệt, khác với hoạt động xuất khẩu hàng hóa thông thƣờng. Có thể khái quát một số đặc điểm của hoạt động XKLĐ nhƣ sau: Xuất khẩu lao động là một hoạt động đặc thù của kinh tế đối ngoại. Trong các hình thức kinh tế đối ngoại, ngoại thƣơng, đầu tƣ quốc tế và dịch vụ thu ngoại tệ là những hình thức chủ yếu và có hiệu quả nhất. Tính chất đặc thù của hoạt động XKLĐ trƣớc hết đƣợc thể hiện ở chỗ là hoạt động kinh tế nhƣng mang tính chất xã hội sâu sắc.
Để thu đƣợc những lợi ích kinh tế, các nƣớc xuất khẩu lao động một mặt phải không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động thông qua việc mở rộng thị trƣờng, quan tâm đến chất lƣợng và số lƣợng nguồn lao động xuất khẩu. Mặt khác, phải xử lý hài hòa các mối quan hệ: tiền công cho ngƣời lao động, lợi nhuận cho doanh nghiệp và lợi ích của nhà nƣớc. Do đó, mọi chủ trƣơng, chính sách, các biện pháp quản lý và tác động của nhà nƣớc phải xuất phát từ 10 mục tiêu kinh tế mới có thể định hƣớng và đảm bảo cho hoạt động ngày càng hiệu quả. Xuất khẩu lao động là một hoạt động xuất khẩu dịch vụ đặc thù.
Theo quan niệm mới, các ngành xuất khẩu dịch vụ thu ngoại tệ bao gồm nhiều lĩnh vực, từ du lịch, XKLĐ đến xây dựng, y tế, giáo dục, bảo hiểm, các cung ứng dịch vụ vận tải, ngân hàng, bƣu chính viễn thông, trong đó XKLĐ đƣợc xem là hoạt động có tính chất đặc thù. Đặc điểm này do tính chất không thể chia tách và tính không xác định trong hoạt động XKLĐ quy định. Tính không thể chia tách của hoạt động XKLĐ thể hiện ở chỗ: cũng nhƣ các hoạt động dịch vụ khác, XKLĐ có đặc điểm là quá trình tạo giá trị và giá trị sử dụng thống nhất với quá trình tiêu dùng, thụ hƣởng giá trị và giá trị sử dụng của sức lao động. Ngoài ra, hoạt động XKLĐ còn có sự khác biệt với các hoạt động dịch vụ khác ở chỗ, hoạt động XKLĐ không chấm dứt khi đã hoàn thành thủ tục đƣa ngƣời lao động đi làm việc ở nƣớc ngoài mà nó là một quá trình gồm nhiều khâu, nhiều công đoạn liên hoàn, gắn kết chặt chẽ với nhau.
Tính không xác định của hoạt động XKLĐ đƣợc thể hiện ở chỗ: cũng nhƣ mọi hoạt động dịch vụ khác, hoạt động XKLĐ có đặc điểm là không hiện hữu dƣới dạng vật thể, khó lƣợng hóa khi quyết định trao đổi, mua bán, sử dụng. Tính không xác định trong hoạt động XKLĐ đƣợc quy định bởi chất lƣợng hàng hóa sức lao động. Chất lƣợng của hàng hóa sức lao động đƣợc phản ánh và phụ thuộc vào thể chất và tinh thần hay sự dẻo dai, bền bỉ, độ thành thạo và năng lực sáng tạo trong lao động của ngƣời lao động; vào điều kiện làm việc, nghỉ ngơi và các điều kiện khác cho ngƣời lao động. Hoạt động XKLĐ xuất phát từ mục đích của các chủ thể tham gia: tiền công của người lao động, lợi nhuận của doanh nghiệp và lợi ích của nhà nước.
Ngƣời lao động tham gia vào hoạt động XKLĐ với tƣ các vừa là ngƣời tạo ra hàng hóa xuất khẩu, vừa là ngƣời trực tiếp mang hàng hóa đi bán, mục đích của họ là các khoản thu nhập hay tiền công lao động ở nƣớc ngoài. 11 Lợi nhuận của các doanh nghiệp XKLĐ thu đƣợc chủ yếu từ việc thu các loại phí dịch vụ mà ngƣời lao động trả về việc giúp cho ngƣời lao động đƣợc đi làm việc ở nƣớc ngoài. Lợi ích của Nhà nƣớc là các khoản ngoại tệ ròng nhận đƣợc thông qua các khoản tiền của ngƣời lao động gửi về nƣớc, các khoản thuế và phí thu đƣợc từ các hoạt động XKLĐ của các doanh nghiệp. Vì lợi ích kinh tế, cả ngƣời lao động và doanh nghiệp XKLĐ rất dễ vi phạm các quy định của pháp luật, do đó, với tƣ cách là một chủ thể tham gia vào quá trình này, nhà nƣớc phải xây dựng các khuôn khổ pháp lý cho hoạt động XKLĐ để đảm bảo các lợi ích các quốc gia, quyền lợi của các tổ chức, doanh nghiệp, ngƣời lao động và duy trì, phát triển quan hệ hợp tác với các nƣớc nhập khẩu lao động.
Trong những trƣờng hợp cần thiết, nhà nƣớc phải trực tiếp giải quyết các vấn đề mà bản thân các tổ chức, doanh nghiệp không thể đảm đƣơng đƣợc nhƣ bảo vệ ngƣời lao động ở nƣớc ngoài, ký kết các điều ƣớc quốc tế liên quan đến ngƣời lao động và giải quyết các vấn đề tiêu cực trong hoạt động XKLĐ. Trong hoạt động XKLĐ, quyền sở hữu không tách rời quyền sử dụng sức lao động. Trong hoạt động XKLĐ, ngƣời lao động không mất quyền sở hữu sức lao động, chủ sử dụng sức lao động có thời hạn. Sở dĩ có đặc điểm này là do sức lao động luôn tồn tại trong cơ thể ngƣời lao động, luôn thuộc quyền sở hữu của ngƣời lao động.
Họ chỉ bán sức lao động của mình và bao giờ cũng chỉ bán, tức là để cho ngƣời sử dụng sức lao động của mình trong một thời hạn nhất định, chứ không từ bỏ quyền sở hữu về sức lao động đó. Do đó, khác với việc xuất khẩu các loại hàng hóa thông thƣờng, XKLĐ không có sự chuyển quyền sở hữu hàng hóa sức lao động khi hợp đồng mua bán sức lao động đƣợc thực hiện. Hoạt động XKLĐ trong thời đại ngày nay mang tính chất đa phương, đa dạng và phong phú. Do nhiều nguyên nhân khác nhau, đặc biệt là do tác 12 động của phân công lao động quốc tế và quá trình quốc tế hóa dƣới tác động của sự phát triển nhƣ vũ bão của khoa học và công nghệ, sự đa phƣơng trong quan hệ hợp tác lao động, đa dạng về thị trƣờng và phong phú về chủng loại hàng hóa sức lao động đã và đang diễn ra ở tất cả các nƣớc, các khu vực trên thế giới.
Ngày nay, cùng với sự tăng cƣờng xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế, quy mô XKLĐ ngày càng mở rộng theo hƣớng nƣớc nghèo XKLĐ sang nƣớc giàu; nƣớc đang phát triển XKLĐ sang nƣớc phát triển; nƣớc đông dân cƣ XKLĐ sang nƣớc thƣa thớt dân cƣ; có những nƣớc chuyên xuất, có những nƣớc lại chuyên nhập, lại có những nƣớc lại vừa xuất vừa nhập lao động. Hoạt động XKLĐ góp phần thúc đẩy giao lưu văn hóa và hợp tác hữu nghị giữa nước XKLĐ và nước nhập khẩu lao động. Là lĩnh vực liên quan trực tiếp đến con ngƣời, nhiều quốc gia nhập khẩu lao động có chủ trƣơng ƣu đãi hơn đối với lao động đến từ các nƣớc tƣơng đồng về văn hóa. Vì văn hóa là con ngƣời, con ngƣời là văn hóa.
Trong mỗi ngƣời lao động đều có tố chất văn hóa, có thể học vấn cao, nhƣng vẫn lấp lánh vẻ đẹp, mang đậm hồn cốt nền văn hóa mà họ đƣợc nuôi dƣỡng từ thƣở ấu thơ.