Chương 1: cơ sở khoa học của quản lý nhà nƣớc đối với xuất khẩu hàng hóa Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trƣờng Trung Quốc Chương 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc đối với xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trƣờng Trung Quốc 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI XUẤT KHẨU HÀNG HÓA 1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU HÀNG HÓA 1.1 Khái niệm và phân loại xuất khẩu hàng hóa 1.1 Khái niệm xuất khẩu hàng hóa: Theo Điều 28, mục 1, chương 2, Luật thương mại số 36/2005/QH11, “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam, được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”. Khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan theo quy định của pháp luật, đó là các khu Công nghiệp, Khu chế xuất, khu kinh tế mở…Đối với hàng hóa trong nước đưa vào các khu vực này: quan hệ trao đổi hàng hóa giữa các doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp trong các khu vực này được coi là quan hệ xuất khẩu, phải thực hiện các quy định của pháp luật về xuất khẩu hàng hóa và phải khai báo và làm thủ tục hải quan.2 Phân loại xuất khẩu hàng hóa: Xuất khẩu hàng hóa có thể được tổ chức theo nhiều hình thức khác nhau phụ thuộc vào số lượng và các loại hình trung gian thương mại. Mỗi phương thức có đặc điểm riêng, có kỹ thuật tiến hành riêng. Thông thường có các loại hình xuất khẩu chủ yếu sau: a) Xuất khẩu trực tiếp Giống như các hoạt động mua bán thông thường trực tiếp ở trong nước, phương thức xuất khẩu trực tiếp trong kinh doanh thương mại quốc tế có thể được thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi trong đó người mua và người bán trực tiếp gặp mặt (hoặc thông qua thư từ, điện tín.) để bàn bạc và thoả thuận với nhau về hàng hoá, giá cả, điều kiện giao dịch, phương thức thanh toán.
mà không qua người trung gian. Những nội dung này được thoả thuận một cách tự nguyện, việc mua không nhất thiết gắn liền với việc bán. 8 b) Xuất khẩu gián tiếp Nếu trong xuất khẩu trực tiếp người bán tìm đến người mua, người mua tìm đến người bán và họ trực tiếp thoả thuận quy định những điều kiện mua bán, thì trong xuất khẩu gián tiếp, một hình thức giao dịch qua trung gian, mọi việc kiến lập quan hệ giữa người bán và người mua và việc quy định các điều kiện mua bán đều phải thông qua người thứ ba. Người thứ ba này gọi là người trung gian buôn bán.
Người trung gian buôn bán phổ biến trên thị trường thế giới là đại lý và môi giới. c) Buôn bán đối lưu Buôn bán đối lưu là một phương thức giao dịch trao đổi hàng hoá, trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua, lượng hàng giao đi có giá trị tương xứng với lượng hàng nhận về. Ở đây mục đích của xuất khẩu không phải nhằm thu về một khoản ngoại tệ, mà nhằm thu về một hàng hoá khác có giá trị tương đương. d) Gia công quốc tế Gia công quốc tế là một phương thức kinh doanh thương mại trong đó một bên (gọi là bên đặt gia công) giao (hoặc bán) nguyên liệu hoặc bán thành phẩm cho một bên khác (gọi là bên nhận gia công) để chế biến ra thành phẩm giao lại (hoặc bán lại) cho bên đặt gia công và nhận thù lao (gọi là phí gia công).
Như vậy trong gia công quốc tế hoạt động xuất nhập khẩu gắn liền với hoạt động sản xuất. Gia công quốc tế ngày nay khá phổ biến trong buôn bán ngoại thương của nhiều nước. Nhiều nước đang phát triển đã nhờ vận dụng được phương thức gia công quốc tế mà có được một nền công nghiệp hiện đại như Hàn Quốc, Thái Lan, Singapo. e) Giao dịch tái xuất Là hoạt động xuất khẩu trở ra nước ngoài những hàng trước đây đã nhập khẩu chưa qua chế biến ở nước tái xuất.
f) Xuất khẩu theo nghị định thư 9 Là hình thức xuât khẩu hàng hoá (hay trả nợ) được kí theo nghị định thư của chính phủ. Xuất khẩu theo hình thức này có ưu điểm: khả năng thanh toán chắc chắn (do nhà nước trả cho đối tác xuất khẩu), giá cả hàng hóa dễ chấp nhận.2 Vai trò của xuất khẩu hàng hóa XK hàng hóa có vai trò quan trọng đối với sự phát triển nền KTXH của mỗi quốc gia trong quá trình mở cửa và hội nhập. Những vai trò này thể hiện ở những điểm chính sau đây: Thứ nhất, XK hàng hóa giúp quốc gia tận dụng lợi thế so sánh QLNN đối với xuất khẩu hàng hóa nhằm khai thác tốt các nguồn lực cho phát triển kinh tế thông qua việc hoạch định chiến lược tập trung vào sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng quốc gia đó có lợi thế so sánh.Sức cạnh tranh của hàng hóa được nâng cao, nền kinh tế tăng trưởng nhanh và ổn định hơn do các nguồn lực được phân bổ hiệu quả hơn.Quá trình này cũng mở ra cơ hội lớn cho tất cẩ các nước, nhất là các quốc gia đang phát triển, tiến hành công nghiệp hóa dựa trên thành quả của cuộc cách mạng khoa học công nghệ. Thứ hai, Tạo nguồn vốn chủ yếu cho sự nghiệp công nghiệp hóa Con đường tất yếu để thoát khỏi tình trạng nghèo và kém phát triển của nước ta là công nghiệp hóa theo những bước đi thích hợp.
Muốn công nghiệp hóa, phải có số vốn ngoại tệ lớn cho nhập khẩu máy móc, thiết bị kĩ thuật tiên tiến. Mỗi quốc gia thu được ngoại tệ từ các nguồn: đầu tư nước ngoài, xuất khẩu hàng hóa, vay nợ, viện trợ, ngoại hối từ ngoại kiều gửi về. Đầu tư nước ngoài, viện trợ và vay nợ rất quan trọng nhưng rồi cũng phải hoàn lại về sau dưới dưới hình thức này hay hình thức khác. Hơn nữa, nguồn vốn này chỉ chảy vào trong nước thuận lợi khi các nhà đầu tư, người cho vay thấy được khả năng xuất khẩu- Nguồn vốn ngoại tệ duy nhất để trả nợ.
Trên thực tế, trong các nguồn ngoại tệ thu về, xuất khẩu luôn chiếm phần rất lớn. Do đó, QLNN đối với xuất khẩu sẽ thúc đẩy quá trình tạo nguồn ngoại tệ, nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu máy móc, thiết bị kỹ thuật tiên tiến phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa. 10 Thứ ba, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển Xuất khẩu tác động tới sản xuất và chuyển dịch cơ cấu theo hai cách tùy thuộc vào cách nhìn nhận hoạt động này. QLNN đối với xuất khẩu hàng hóa có vai trò rất to lớn trong việc hoạch định chiến lược, xác định quan điểm lựa chọn hướng xuất khẩu, qua đó góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất : Một là, xuất khẩu chỉ là việc đẩy ra thị trường thế giới những sản phẩm thừa, không tiêu dùng hết ở nội địa, tức là bán những gì ta có.
Đối với những nền kinh tế còn lạc hậu, kém phát triển như nước ta, nếu chỉ trông vào sự dư thừa của sản xuất thì kim ngạch xuất khẩu rất nhỏ bé và không có tác dụng thúc đẩy sản xuất phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Hai là, coi thị trường thế giới là điểm khởi đầu của sản xuất, để hướng tới thỏa mãn nhu cầu rộng lớn trên thị trường này. Tức là, xuất khẩu những gì thị trường ngoài nước cần. Điều này có tác dụng thúc đẩy sản xuất phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế thông qua các tác động sau: - Xuất khẩu mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, nhờ vậy sản xuất có thể phát triển ổn định, tận dụng được lợi thế theo quy mô.
- Thông qua xuất khẩu, hàng hóa của một quốc gia sẽ tham gia cạnh tranh trên thị trường thế giới về chất lượng, giá cả, chính sách phân phối…Quá trình này có vai trò rất quan trọng của QLNN về xuất khẩu, cần có chiến lược, chính sách tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất thích ứng được với thay đổi của thị trường. Thứ tư, góp phần giải quyết việc làm và cải thiện đời sống người dân Sản xuất hàng xuất khẩu là khu vực thu hút hàng triệu lao động vào làm việc với thu nhập khá và ổn định. Xuất khẩu còn tạo nguồn ngoại tệ để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng phong phú của nhân dân. Do vậy, QLNN đối với XK hàng hóa sẽ trực tiếp nâng cao hiệu quả xuất khẩu, thúc đẩy quá trình sản xuất hàng hóa 11 cho xuất khẩu, góp phần giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống người dân.
Thứ năm, mở rộng và thúc đẩy các mối quan hệ kinh tế đối ngoại Xuất khẩu tăng cường vị thế kinh tế, chính trị của mỗi quốc gia trên trường quốc tế. Xuất khẩu và quan hệ kinh tế đối ngoại khác có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau. Hoạt động xuất khẩu có thể đi trước mở đường cho các quan hệ kinh tế đối ngoại khác phát triển như: tín dụng, đầu tư, vận tải, bảo hiểm, chuyển giao công nghệ…QLNN đối với xuất khẩu có vai trò quan trọng để quốc qia tham gia sâu và giữ vị trí ngày càng quan trọng trên thị trường thế giới, qua đó làm tăng cường địa vị kinh tế cũng như chính trị của mỗi quốc gia.3 Đặc điểm của xuất khẩu hàng hóa Thứ nhất, khách mua là thương nhân nước ngoài cần mua hàng với số lượng lớn và tuân thủ luật pháp quốc tế; nhà XK phải tìm hiểu kỹ nhu cầu của thị trường nước ngoài để đưa hàng hóa phù hợp vào thị trường đó. Trong những năm gần đây, hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng về cơ bản không có các biến động hay chiều hướng thay đổi lớn so với các năm trước.
Chủ lực xuất khẩu vẫn là các doanh nghiệp thuộc khối FDI và kim ngạch xuất khẩu vẫn chủ yếu tập trung ở các thị trường truyền thống. Hoa Kỳ, EU, ASEAN, Nhật Bản, Trung Quốc vẫn là các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam. Thị trường Hàn Quốc, Ấn Độ và Trung Quốc là ba thị trường có thay đổi đáng kể nhất đối với hoạt động cũng như triển vọng xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường này.