Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG DẠY HỌC TIẾNG ANH TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về dạy học theo hướng phát triển năng lực Vài thập kỷ trước đây, việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh đã được triển khai rộng khắp trong các cơ sở giáo dục ở các nước có nền giáo dục tiên tiến. Ở Việt Nam những năm gần đây, dạy học hướng đến phát triển năng lực người học đã trở thành một vấn đề thiết thực nhằm thực hiện mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục theo tinh thần Nghị quyết hội nghị 8 BCH Trung ương Đảng khóa XI “tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của chương trình giáo dục theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học” [1].
Từ trước đến nay, đã có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề dạy học theo hướng phát triển năng lực. Năng lực trong tiếng Anh có thể được dùng với thuật ngữ như capability, ability, competency, capacity. Năng lực là “khả năng làm việc tốt, nhờ có phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn” (Từ điển Tiếng Việt) [35]. Năng lực là “thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,…thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” (Chương trình GDPT tổng thể Bộ GD&ĐT, 2018) [3].
Theo Trần Trung Dũng (2015) trong bài “Tổng quan nghiên cứu vấn đề 8 giáo dục theo định phát triển năng lực học sinh” có viết về thuật ngữ năng lực “là tổng hợp của thuộc tính tâm lý cá nhân đáp ứng những yêu cầu của hoạt động và đảm bảo cho hoạt động đó đạt được kết quả mong muốn” [10] Các nhà tâm lý học như Trần Trọng Thủy, Nguyễn Quang Uẩn (2001) đã xem NL như là một “thuộc tính cá nhân” [31]. Đồng thời các tác giả này cũng đã nghiên cứu và làm rõ những điểm chung của NL qua các khái niệm tường minh, cho rằng lịch sử đã hình thành năng lực của con người, NL người không ngừng được phát triển, đổi mới trên cơ sở hoạt động phát triển của lao động sáng tạo. Năng lực và mục tiêu của quá trình dạy học có sự liên quan mật thiết với nhau, thông qua các năng lực mà người học cần đạt thì mục tiêu của quá trình dạy học được hình thành. Khi học các môn học, năng lực của người học được hình thành qua nội dung và qua các hoạt động học tập được liên kết với nhau; Vì vậy, để hướng tới các sản phẩm đầu ra của giáo dục có chất lượng đòi hỏi phải có sự kết nối tri thức giữa người dạy và người học để đạt được năng lực mong đợi.
Năng lực mang đến cho người học khả năng không chỉ “biết hiểu” mà còn phải “biết làm” một công việc gì đó với ý thức tự giác cá nhân và tinh thần trách nhiệm. Như vậy, ba yếu tố kiến thức, kỹ năng và thái độ hình thành nên năng lực của người học, giúp người học thực hiện thành công một hoạt động cụ thể và đạt kết quả như mong muốn. Sau khi kết thúc một chương trình giáo dục, chất lượng đầu ra chú trọng vào việc HS “cần đạt được năng lực gì”. Hướng giáo dục này thay đổi cách dạy học sinh chủ yếu qua ghi nhớ và học thuộc kiến thức, mà dạy HS phải biết dùng kiến thức đó để giải các bài toán do cuộc sống hiện thực đặt ra, nói cách khác, HS phải biết làm được gì từ những điều đã học.
Dạy học theo hướng tiếp cận năng lực là hoạt động đòi hỏi người GV 9 phải áp dụng các phương pháp, hình thức, phương tiện dạy học, kiểm tra đánh giá phù hợp nhằm hình thành năng lực cho HS. Qua quá trình tổ chức hướng dẫn học tập, GV cung cấp kiến thức, chuyển giao nhiệm vụ học tập phân hóa các đối tượng HS, rèn kỹ năng tư duy, phản biện, từ đó hình thành năng lực cho HS giúp HS tiếp thu kiến thức, trau dồi kỹ năng để hoàn thành tốt mục tiêu học tập. Hướng dạy học tiếp cận năng lực HS là phương pháp đánh giá năng lực HS theo từng mức độ khác nhau. Do đó, phương pháp này có thể áp dụng cho tất cả các HS ở mọi trình độ.
Phương pháp dạy học tiếp cận năng lực giúp học sinh có được cách nhìn nhận sự việc rõ nét, tường minh hơn với kiến thức đã học để vận dụng vào thực tế. Qua cách học tiếp cận năng lực, ngoài việc lĩnh hội đầy đủ các kiến thức trong sách vở và từ thầy cô, HS còn trau dồi khả năng tự học và giải quyết tình huống, khả năng sử dụng nguồn tài nguyên đa dạng khác để làm chủ kiến thức và sáng tạo. Phương pháp dạy học tiếp cận năng lực giúp học sinh có khả năng quyết đoán các vấn đề của bản thân, bản lĩnh, tự tin hơn trong học tập và trong cuộc sống. Xu thế toàn cầu đang áp dụng phát triển chương trình GD theo hướng tiếp cận NL trong các cơ sở giáo dục, các nhà trường ở mỗi cấp học.
Quan trọng nhất trong CTGD theo phát triển NL là chuẩn đầu ra cần được hiểu một cách thống nhất là một ngưỡng thực tế hoặc mức thể hiện NL trong một tình huống đánh giá và là mức độ thành đạt cụ thể mà người học có được. Tổ chức dạy học theo định hướng phát triển NLHS là giúp học sinh thấu hiểu “Học để làm gì - học cái gì” để có NL đích thực, đồng thời bồi dưỡng cho HS cách “học hiệu quả” để có NL bền vững dưới góc nhìn của Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đặng Quốc Bảo và Nguyễn Sỹ Thư (2012), [19]. Lê Đình Trung, Phan Thị Thanh Hội (2016), trong cuốn “Hoạt động dạy học theo định hướng hình thành và phát triển năng lực người học” đã giúp làm sáng tỏ những nghiên cứu liên quan đến dạy học theo hướng 10 chuẩn đầu ra [29]. Nghiên cứu về xây dựng môi trường giáo dục ở trường phổ thông Yếu tố quan trọng tác động không nhỏ đến việc hình thành nhân cách con người và hiệu quả của quá trình giáo dục là môi trường giáo dục.
Trong cuốn “Môi trường giáo dục và học sinh”, John Keeves (1924- 2020) một nhà nghiên cứu giáo dục đã đề cập đến mối quan hệ qua lại giữa thành viên trong gia đình, trường lớp, bạn bè; mối quan hệ giữa các điều kiện vật chất và tinh thần, các yếu tố văn hóa, xã hội ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục; mối quan hệ giữa môi trường giáo dục với kết quả học tập của trẻ. Tác giả cho rằng, tình cảm trở nên khá quan trọng khi điều kiện về vật chất đáp ứng tốt. Đa số các phòng học mới đầu tư cơ sở vật chất, các hộ gia đình có nơi ở mới đẹp đẽ khang trang thì tâm lý dễ trở nên thay đổi, vật chất không còn tạo nên những cảm giác mạnh thường xuyên như khi sống trong điều kiện khó khăn về môi trường nhà ở [40]. Keeves khẳng định không tìm ra sự mâu thuẫn với lời tuyên bố của Bloom, rằng “Môi trường là một yếu tố quyết định đến kiểu và mức độ thay đổi đặc tính nào đó của học sinh” [40].
Ông cho rằng, môi trường gia đình có ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh một cách có thể đo lường được và sự thành công trong học tập của trẻ dao động theo sự khác nhau về vật chất và văn hóa của môi trường gia đình cùng thuộc một tầng lớp xã hội nhất định. Môi trường giáo dục gọi là nơi tạo ra những kích thích ảnh hưởng đến việc tiếp nhận kiến thức của cá nhân, sự phát triển các kĩ năng nhận thức và việc hình thành các thái độ đặc trưng đối với cuộc sống cũng như việc học tập ở trường của trẻ. Công trình nghiên cứu của Keeves tuy mới chỉ dừng ở nghiên cứu ban đầu, nhưng cũng gợi mở cho chúng ta những suy nghĩ về những nội dung, phương pháp xây dựng môi trường giáo dục trong các nhà trường trung học. 11 Ở Việt Nam, nghiên cứu về môi trường giáo dục có tác giả Phạm Hồng Quang.
Theo ông, môi trường giáo dục, môi trường văn hoá và các yếu tố ảnh hưởng tác động đến con người đã được xem xét ở nhiều bình diện từ vi mô đến vĩ mô [25]. Các nghiên cứu về quản lý xây dựng môi trường dạy học Tiếng Anh theo hướng phát triển năng lực giao tiếp ở các nhà trường Ngày nay, việc giảng dạy Tiếng Anh trong các nhà trường là vô cùng quan trọng vì Tiếng Anh là ngôn ngữ phổ biến nhất trên thế giới. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân tác động, chất lượng giảng dạy Tiếng Anh chưa đạt hiệu quả như mong muốn, học sinh sau nhiều năm học Tiếng Anh ở trường trung học thậm trí đại học vẫn không có khả năng giao tiếp được Tiếng Anh tốt. Vì vậy đòi hỏi các nhà quản lý giáo dục cần đặc biệt quan tâm đến việc quản lý các hoạt động xây dựng môi trường dạy học Tiếng Anh theo hướng PTNLGT.
Vấn đề quản lý xây dựng môi trường dạy học và sử dụng Tiếng Anh trong các nhà trường đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đề xuất những biện pháp quản lý giáo dục có chất lượng và áp dụng các mô hình quản lý hiệu quả tại các trường học trên cả nước, tiêu biểu như: Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hải Phương về “Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh tại các trường THCS thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương” [24]; Luận văn của tác giả Vương Hồng Hạnh, Viện Khoa học GD Việt Nam nghiên cứu về “Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý dạy học môn Tiếng Anh cấp THCS theo hướng phát triển NL học sinh THCS trên địa bàn thành phố Hà Nội” [15] đã chỉ ra những thực trạng trong công tác quản lý hoạt động dạy học Tiếng Anh tại các nhà trường cũng như trình bày một số biện pháp nhằm đổi mới công tác quản lý dạy học Tiếng Anh trong các nhà trường THCS. Tuy nhiên, vấn đề “Quản lý xây dựng môi trường dạy học Tiếng Anh theo hướng phát triển năng lực giao tiếp tại các trường THCS huyện Lục Yên, 12 tỉnh Yên Bái” đến nay tại địa phương chưa có nghiên cứu cụ thể nào.