Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG VỐN VAY TỪ NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI ĐỐI VỚI THANH NIÊN NÔNG THÔN 1. Cơ sở lý luận về quản lý sử dụng vốn vay từ ngân hàng chính sách xã hội đối với thanh niên nông thôn 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Thanh niên Thanh niên là khái niệm được sử dụng nhiều trong công tác cũng như trong cuộc sống hàng ngày với nhiều cách hiểu khác nhau.
Tùy theo trường hợp, có khi thanh niên dùng để chỉ một con người cụ thể, có khi lại dùng để chỉ tính cách, phong cách trẻ trung của người nào đó, có khi lại dùng để chỉ cả một lớp người trẻ tuổi. Thanh niên còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học; tùy theo góc độ tiếp cận của mỗi ngành mà người ta đưa ra các định nghĩa khác nhau về thanh niên. Về mặt sinh học, thanh niên được coi là một giai đoạn phát triển trong cuộc đời con người, bởi từ đây các em bước sang một giai đoạn mới để trở thành người lớn, người trưởng thành. Các nhà tâm lý học thường nhìn nhận thanh niên gắn với các đặc điểm tâm lý lứa tuổi và coi đó là yếu tố cơ bản để phân biệt với các lứa tuổi khác.
Từ góc độ xã hội học, thanh niên lại được nhìn nhận là một giai đoạn xã hội hóa - thời kỳ kết thúc của tuổi thơ phụ thuộc chuyển sang xác lập vai trò cá nhân qua các hoạt động độc lập với tư cách đầy đủ của một công dân, là một trong các chủ thể của các quan hệ xã hội. Các nhà kinh tế học lại nhấn mạnh thanh niên với góc độ là một lực lượng lao động xã hội hùng hậu, là nguồn lực bổ sung cho đội ngũ những người lao động trên các lĩnh vực sản xuất… Đặc điểm chung về mặt sinh học của thanh niên là giai đoạn kết thúc tuổi thiếu niên, đạt tới đỉnh cao của sự trưởng thành. Đây là giai đoạn quan trọng nhất trong sự 6 phát triển của cá thể con người. Xác định giai đoạn này thường được biểu hiện một cách tập trung ở việc xác định độ tuổi thanh niên.
Tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, đặc điểm của từng thời đại lịch sử, các yếu tố truyền thống của từng quốc gia, dân tộc…mà quy định về độ tuổi thanh niên có sự khác nhau giữa các quốc gia. Hiện nay, hầu hết các nước trên thế giới quy định độ tuổi thanh niên bắt đầu từ 15 tuổi; nhưng tuổi kết thúc có khác nhau khá nhiều. Có nước quy định là 25 tuổi (hầu hết các nước phương Tây), có nước quy định là 30 tuổi (Philippin, Hà Quốc…), nước khác lại quy định là 35 tuổi (Ấn Độ, Maldives…), Trung Quốc là 28 tuổi… Ở nước ta, “Thanh niên là công dân Việt Nam từ 16 tuổi đến 30 tuổi” [8]. Với những đặc tính của thanh niên, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã khái quát: “Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh dân tộc; là lực lượng chủ yếu trên nhiều lĩnh vực, đảm nhiệm những công việc đòi hỏi hy sinh, gian khổ, sức khỏe và sáng tạo.
Thanh niên là độ tuổi sung sức nhất về thể chất và phát triển trí tuệ, luôn năng động, sáng tạo, muốn khẳng định mình. Song do còn trẻ, thiếu kinh nghiệm nên thanh niên cần được sự giúp đỡ, chăm lo của các thế hệ đi trước và toàn xã hội…”. Bên cạnh những mặt tích cực, Nghị quyết cũng chỉ rõ “Một bộ phận thanh niên sống thiếu lý tưởng, giảm sút niềm tin, ít quan tâm tới tình hình đất nước, thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sống thực dụng, xa rời truyền thống văn hóa dân tộc. Học vấn của một bộ phận thanh niên nhất là thanh niên nông thôn, thanh niên dân tộc thiểu số còn thấp; nhiều thanh niên thiếu kiến thức và kỹ năng hội nhập quốc tế.
Tính độc lập, chủ động, sáng tạo, năng lực thực hành sau đào tạo của thanh niên còn yếu, chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tình trạng tội phạm và tệ nạn xã hội trong thanh niên đang gia tăng và diễn biến ngày càng phức tạp. Tỷ lệ thanh niên nhiễm HIV/AIDS còn cao” [6]. Thanh niên nông thôn Theo Luật thanh niên: Thanh niên Việt Nam được xác định là công dân Việt Nam có độ tuổi từ 16 đến 30 [8].
7 Tuỳ theo môi trường hoạt động, đặc điểm nghề nghiệp người ta chia thanh niên thành các nhóm đối tượng khác nhau: Thanh niên công nhân, thanh niên nông thôn, thanh niên trong lực lượng vũ trang. Như vậy có thể hiểu thanh niên nông thôn là những người thanh niên sinh sống ở khu vực nông thôn. Thanh niên là một nhóm xã hội đặc thù bao gồm những người trong một độ tuổi nhất định, có sự phát triển nhanh chóng về thể chất, tâm lý, trí tuệ. Tuy nhiên, bên cạnh những khả năng to lớn, sự mạnh dạn, lòng dũng cảm, tinh thần dám nghĩ, dám làm, trong cả thế hệ thanh niên cũng như trong từng cá thể, sự hạn chế và các nhược điểm về mặt thiếu kinh nghiệm, thiếu từng trải, tính bồng bột, thậm chí có lúc còn phiêu lưu, liều lĩnh… luôn phải được cảnh giác, phải được khắc phục bằng chính sự rèn luyện, phấn đấu không ngừng của bản thân thanh niên và có sự hỗ trợ của nhà nước cũng như toàn xã hội [17].
Đặc điểm của Thanh niên Nông thôn: Ở bất kỳ quốc gia nào thanh niên đều là lực lượng lao động trẻ có vai trò tiên phong trên mọi lĩnh vực, Ở Việt Nam qua các thời kỳ, các thế hệ thanh niên luôn hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử của mình. Với tư cách lực lượng lao động trẻ của xã hội thanh niên nông thôn có các đặc điểm sau: - Thanh niên có ưu thế vượt trội về sức khỏe do tham gia lao động nông nghiệp ngay từ khi còn là thiếu niên nên họ được rèn luyện về sức khỏe và tinh thần, có khả năng lao động tốt, kế thừa truyền thống lao động cần cù. Sống ở môi trường nông thôn, điều kiện sinh hoạt và làm việc không được bằng đô thị, thanh niên nông thôn đa phần có ý thức tiết kiệm, có tinh thần vượt khó, quyết tâm vươn lên làm giàu, có trách nhiệm với gia đình và xã hội. - Thanh niên nông thôn sống thân thiện với môi trường thiên nhiên và xã hội, nhiệt tình, có tinh thần ham học hỏi.
Trong lao động và hoat động xã hội, họ có tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, năng động và thích nghi nhanh. - Thanh niên Nông thôn chiếm tỷ lệ lớn trong dân số và là nguồn lực chủ yếu ở nông thôn, là lao động trụ cột của gia đình nhưng họ cũng có khả năng thoát ly cao để làm việc trong môi trường mời xa nhà miễn là mang lại thu nhập tốt hơn cho bản thân và gia đình. 8 Với những điểm mạnh đó thanh niên nông thôn được nhìn nhận là lực lượng lao động cơ bản và năng động có thể đóng góp rất lớn cho tăng trưởng kinh tế và an sinh xã hội, có tiềm năng rất lớn trong quá trình xây dựng đất nước. Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới, những nước đang phát triển có sự đầu tư về giáo dục, y tế và đào tạo nghề cho thanh niên nói chung và thanh niên nông thôn nói riêng, có chính sách việc làm phù hợp đối với họ sẽ có thể khai thác sự nhiệt tình, tinh thần sáng tạo và năng lực cá nhân của thanh niên để gia tăng tốc độ phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, tạo một xã hội bền vững.
Ngược lại tình hình thất nghiệp hay không đủ việc làm cho thanh niên nông thôn sẽ dẫn đến thiệt hại to lớn về mặt kinh tế và xã hội. Bên cạnh những điểm mạnh nêu trên, thanh niên nông thôn có một số hạn chế so với thanh niên thành thị. Họ ít có điều kiện học tập nâng cao trình độ và phát triển năng lực của cá nhân, trình độ kỹ năng nghề nghiệp thấp, nhận thức về chọn nghề nghiệp, định hướng nghề nghiệp còn nhiều lệch lạc, kỷ luật lao động, ý thức chấp hành kỷ luật cao động chưa cao, thiếu kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng quản lý… Trước yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước, Đảng và nhà nước ta chủ trương tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi để thanh niên Việt Nam trong đó có thanh niên nông thôn có thể được học tập, làm việc và cống hiến tốt nhất. Ngân hàng chính sách xã hội Tại Nghị quyết số 05-NQ/HNTW, ngày 10/6/1993 Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, về việc tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, Đảng ta chủ trương có chế độ tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo, hộ chính sách, vùng nghèo, vùng dân tộc thiểu số, vùng cao, vùng căn cứ cách mạng; mở rộng hình thức cho vay thông qua tín chấp đối với các hộ nghèo… Để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết của Đảng và Chiến lược quốc gia về xóa đói giảm nghèo, năm 1993, Chính phủ đã thành lập Quỹ cho vay ưu đãi hộ nghèo với số vốn ban đầu là 400 tỷ đồng, do Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Ngoại thương và Ngân hàng Nhà nước đóng góp.
Quỹ được sử dụng cho vay hộ nghèo thiếu vốn sản xuất kinh doanh với lãi suất ưu đãi, mức cho vay 500.000 đồng/hộ, người vay không phải bảo đảm tiền vay. 9 Từ kinh nghiệm thực tiễn hai năm thực hiện Quỹ cho vay ưu đãi hộ nghèo, ngày 31/8/1995, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 525/QĐ-TTg về việc thành lập Ngân hàng Phục vụ người nghèo, đặt trong Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (NHNo&PTNT Việt Nam), hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, để cung cấp nguồn vốn ưu đãi cho hộ nghèo thiếu vốn sản xuất. Với mô hình tổ chức được triển khai đồng bộ từ Trung ương đến địa phương trên cơ sở tận dụng bộ máy và mạng lưới sẵn có của NHNo&PTNT Việt Nam, Ngân hàng Phục vụ người nghèo đã thiết lập được kênh tín dụng riêng để hỗ trợ tài chính cho các hộ nghèo ở Việt Nam với các chính sách tín dụng hợp lý, giúp hộ nghèo có vốn sản xuất, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, từng bước làm quen với nền sản xuất hàng hoá và có điều kiện thoát khỏi đói nghèo.